03:16 26/03/2026

Đa dạng thị trường, giảm rủi ro xuất khẩu nông sản

Với mục tiêu đạt và vượt các chỉ tiêu tăng trưởng, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của ngành năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định cần tập trung vào ổn định chi phí sản xuất, bảo vệ lợi nhuận người sản xuất, duy trì ổn định chuỗi xuất khẩu và tăng khả năng tự chủ dài hạn.

Chú thích ảnh
Chế biến hạt điều xuất khẩu. Ảnh tư liệu: Đình Huệ/TTXVN

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang khu vực Trung Đông đạt trên 1,74 tỷ USD (trong đó các mặt hàng chủ lực như, hạt điều 600 triệu USD, thủy sản 325 triệu USD, cà phê 300 triệu USD…), chiếm 2 - 2,2% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Như vậy, tác động trực tiếp đến tăng trưởng ngành thông qua thị trường Trung Đông là hạn chế về mặt quy mô; nhưng tác động gián tiếp thông qua việc làm gia tăng rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí năng lượng và vận tải quốc tế, ảnh hưởng đến tuyến đường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang Trung Đông và xuất khẩu sang các thị trường Bắc và Trung Phi, Nam Âu, Trung Âu, Tây Âu, và Bắc Âu.

Trong báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ về giải pháp tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường ứng phó với xung đột tại khu vực Trung Đông, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đưa ra 3 kịch bản ứng phó  trước tình hình xung đột ở Trung Đông nếu kéo dài khoảng 1 tháng; kéo dài khoảng 3 tháng và kéo dài khoảng 1 năm. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản bị giảm tương ứng với từng kịch bản (do xuất khẩu sang Trung Đông, châu Âu và Bắc Phi giảm).

Hiện nay, Bộ Tài chính (Cục Thống kê) đang xây dựng kịch bản đánh giá ảnh hưởng cuộc chiến tranh cho toàn nền kinh tế. Khi có hệ số mới này thì sẽ lượng hóa cụ thể tác động của xung đột tới tăng trưởng GDP của ngành Nông nghiệp và Môi trường.

Trước hết, ngành nông nghiệp và môi trường sẽ ưu tiên ổn định nguồn cung và giá các yếu tố đầu vào như phân bón, xăng dầu để giảm chi phí sản xuất; đồng thời thực hiện mua tạm trữ lúa gạo khi giá xuống thấp nhằm hỗ trợ nông dân. Ngành cũng thiết lập đường dây nóng để tiếp nhận, xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc của hợp tác xã, doanh nghiệp và người dân.

Cùng với đó, tăng cường theo dõi sát diễn biến chiến sự và rủi ro logistics quốc tế, đặc biệt tại khu vực Vùng Vịnh, Biển Đỏ và kênh đào Suez, qua đó kịp thời cảnh báo doanh nghiệp về chi phí vận tải, bảo hiểm và rủi ro thanh toán.

Để giảm thiểu tác động đến xuất khẩu, các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp được đẩy mạnh, bao gồm giãn nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, hỗ trợ lưu kho, bảo quản hàng hóa, nhất là đối với thủy sản và rau quả; đồng thời phát huy vai trò của hệ thống Thương vụ Việt Nam tại Trung Đông trong kết nối và xử lý tranh chấp thương mại.

Ngành cũng chú trọng đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do để mở rộng xuất khẩu sang các khu vực tiềm năng như Đông Á, Nam Á, EU, châu Phi và Mỹ Latinh; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ, kết nối giao thương và phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới.

Bên cạnh đó, tăng cường phối hợp với các hiệp hội ngành hàng để cập nhật tình hình đơn hàng, tồn kho, giá cả, từ đó đề xuất giải pháp linh hoạt theo từng ngành.

Về chính sách, ngành đang rà soát, đề xuất các giải pháp hỗ trợ tín dụng như giảm lãi suất vay ngắn hạn, mở rộng hạn mức tín dụng, hỗ trợ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu; đồng thời nghiên cứu điều chỉnh thuế theo hướng giảm thuế nhập khẩu đối với phân bón và nguyên liệu phục vụ sản xuất nhằm giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp.

Về dài hạn, ngành nông nghiệp và môi trường tăng cường phối hợp với Bộ Công Thương và các bộ, ngành, địa phương trong theo dõi thị trường, xúc tiến thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp triển khai hiệu quả các giải pháp phát triển. Trọng tâm là chuyển mạnh sang tư duy kinh tế nông nghiệp, đẩy nhanh cơ cấu lại ngành theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững, minh bạch và tích hợp đa giá trị, gắn với bảo đảm an ninh lương thực và bảo vệ môi trường.

Cùng với đó, tiếp tục nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng thông qua ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo; thúc đẩy chuyển đổi sản xuất từ sản phẩm giá trị thấp sang giá trị cao, phát triển vùng nguyên liệu lớn, bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu và phát thải thấp. Kinh tế hợp tác, liên kết chuỗi giá trị và tổ chức sản xuất theo vùng chuyên canh gắn với truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, vùng nuôi được đẩy mạnh.

Ngành cũng chú trọng phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao; thúc đẩy nuôi biển bền vững, gỡ “thẻ vàng” IUU, đồng thời tăng cường giám sát, cảnh báo sớm rủi ro về thời tiết, dịch bệnh, môi trường để kịp thời ứng phó.

Về thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi số, cắt giảm tối thiểu 30% thủ tục, thời gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp; nghiên cứu xây dựng sàn giao dịch nông sản quốc gia, nâng cao minh bạch và năng lực quản lý chất lượng.

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngành thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa, phát triển công nghiệp chế biến, logistics nông nghiệp; giảm chi phí sản xuất, tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị gia tăng. Hệ thống chế biến được phát triển gắn với vùng nguyên liệu và nhu cầu thị trường.

Đối với xuất khẩu, ngành tập trung mở cửa thị trường, tháo gỡ rào cản kỹ thuật, tận dụng hiệu quả các FTA, đa dạng hóa thị trường và sản phẩm; nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu “Nông sản Việt”.

Với thị trường trong nước, chú trọng giải pháp thúc đẩy tiêu thụ nông sản theo mùa vụ, ổn định cung cầu và kiểm soát biến động giá, góp phần bảo đảm phát triển bền vững toàn ngành.

Để đạt mục tiêu năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng chỉ đạo hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ đủ mạnh cho ngành, đặc biệt về tài chính, tín dụng, bảo hiểm và thương mại. Trọng tâm là hỗ trợ hợp tác xã, doanh nghiệp liên kết theo chuỗi, bao tiêu sản phẩm; tăng cường bảo hộ sở hữu trí tuệ và hoàn thiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp theo hướng khả thi.

Bộ Công Thương và Bộ Ngoại giao đẩy mạnh triển khai các thỏa thuận thương mại nông sản, tăng cường vai trò hệ thống Thương vụ, nhất là tại Trung Đông, nhằm hỗ trợ kết nối, xử lý tranh chấp và duy trì, mở rộng thị trường xuất khẩu. Đồng thời, phối hợp nắm bắt thông tin, mở cửa thị trường cho các mặt hàng mới và hỗ trợ doanh nghiệp bị gián đoạn hợp đồng thông qua các giải pháp như giãn nợ, lưu kho, bảo quản hàng hóa.

Bộ Tài chính rà soát, hoàn thiện chính sách thuế, bảo hiểm nông nghiệp hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu; đồng thời điều chỉnh phương pháp thống kê theo chuỗi giá trị để phản ánh đầy đủ đóng góp của ngành.

Ngân hàng Nhà nước được đề nghị sớm hoàn thiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, triển khai hiệu quả các gói tín dụng ưu đãi cho lâm sản, thủy sản; thúc đẩy chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời, chỉ đạo giảm lãi suất vay ngắn hạn, mở rộng hạn mức tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu, hỗ trợ tiếp cận bảo hiểm tín dụng, đầu tư kho lạnh và nhập khẩu nguyên liệu đầu vào.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng kiến nghị nghiên cứu giảm thuế nhập khẩu về 0% đối với phân bón và nguyên liệu phục vụ sản xuất nhằm giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành.

Để đóng góp tích cực cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số của nền kinh tế, năm 2026, ngành nông nghiệp và môi trường đặt mục tiêu tăng trưởng 3,7%, phấn đấu tăng 40%, trong đó lĩnh vực nông nghiệp tăng 3,86%, thủy sản tăng 4,42%, lâm nghiệp tăng 5,51%; tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 73 - 74 tỷ USD và hoàn thành toàn bộ các chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể được Chính phủ giao.

Bích Hồng (TTXVN)