Trong bối cảnh thị trường lao động toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải nâng tầm nhân lực. Không chỉ dừng lại ở số lượng, mục tiêu cốt lõi hiện nay là đảm bảo chất lượng, khả năng hội nhập và tính cạnh tranh cao. Việc khẩn trương hoàn thiện hệ thống đánh giá và công nhận kỹ năng nghề chính là “chìa khóa” để lao động Việt nắm bắt những cơ hội việc làm chất lượng cao tại nước ngoài.
Hoạt động sản xuất tại Công ty Pou Phong Việt Nam - Khu công nghiệp Bàu Xéo (Đồng Nai). Ảnh minh họa: Công Phong/TTXVN
Từ tư duy đến thực tế: Còn nhiều rào cản
Nhận định về bức tranh xuất khẩu lao động hiện nay, bà Nguyễn Hải Ninh, Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước và Lao động (Bộ Nội vụ) chỉ rõ 4 xu hướng dịch chuyển tất yếu bao gồm: Từ lao động giản đơn sang lao động kỹ năng cao (điều dưỡng, công nghệ thông tin, cơ khí chính xác); đa dạng hóa thị trường tiếp nhận sang các nước phát triển như Đức và châu Âu; thay đổi tiêu chuẩn tuyển chọn từ ưu tiên sức khỏe sang đánh giá năng lực ngoại ngữ và thích ứng văn hóa; sự lên ngôi của mô hình đào tạo theo đơn đặt hàng.
Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Hải Ninh, hiện vẫn còn nhiều rào cản như: Kỹ năng ngoại ngữ hạn chế khiến người lao động phải đào tạo bổ sung kéo dài; các kỹ năng mềm như tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn yếu khiến doanh nghiệp phải tổ chức đào tạo lại từ đầu. Ngoài ra, năng lực nghề thực tế chưa cao do chương trình đào tạo còn nặng tính lý thuyết, chưa sát với thực tiễn sản xuất hiện đại.
Chỉ rõ những bất cập xoay quanh hệ thống chứng chỉ và cơ chế công nhận kỹ năng, Tiến sĩ Nguyễn Quang Việt, chuyên gia về đảm bảo chất lượng và công nhận kĩ năng, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục nghề nghiệp cho rằng, một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến lao động Việt khó tiếp cận các thị trường thu nhập cao chính là thiếu hệ thống chứng chỉ và cơ chế công nhận kỹ năng. Thực trạng đáng lo ngại là các chứng chỉ nghề của người lao động chủ yếu mới chỉ được xây dựng theo chuẩn trong nước, vẫn còn thiếu tính liên thông quốc tế. Hơn nữa, việc các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về nghề nghiệp chậm cập nhật đã làm giảm lợi thế cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt.
Tiến sĩ Nguyễn Quang Việt khẳng định, nước ta hiện chưa xây dựng được cơ chế hiệu quả để đánh giá, công nhận và chuyển đổi kỹ năng theo tiêu chuẩn quốc tế. Điều này không chỉ dừng lại ở việc xuất khẩu lao động mà còn là sự lãng phí nguồn tài sản "kỹ năng tích lũy". Ngoài ra, kinh nghiệm thực tiễn phong phú của người lao động sau nhiều năm làm việc ở nước ngoài, khi trở về nước vẫn chưa được hệ thống trong nước công nhận và sử dụng hiệu quả, minh bạch.
Chia sẻ về vấn đề đào tạo và sử dụng lao động hiện nay, Tiến sĩ Nguyễn Chí Trường, Trưởng phòng Kỹ năng nghề của Cục Giáo dục Nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho rằng, vấn đề cốt lõi đặt ra không chỉ là đào tạo bao nhiêu người, mà là đào tạo như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất. Việc trả lương và sắp xếp vị trí công việc cần dựa trên kết quả đánh giá năng lực thực tế, thay vì chỉ căn cứ vào bằng cấp hoặc hình thức đào tạo.
Hiện Việt Nam đang đối mặt với một thực tế là khoảng cách giữa đào tạo phổ thông và đại học đang dần mờ nhạt trong mắt doanh nghiệp khi tuyển dụng. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cơ chế công nhận trình độ kỹ năng nghề giữa các bên. Nếu không có cơ chế công nhận kỹ năng phù hợp, chúng ta khó có thể phân biệt và sử dụng đúng năng lực của người lao động.
Tiến sĩ Nguyễn Chí Trường đề xuất cần một hệ thống kết nối chặt chẽ hơn giữa các bên. Theo đó, về quản lý nhà nước, cần thiết lập hành lang pháp lý để kết nối hệ thống giáo dục với nhu cầu thị trường. Cơ sở đào tạo cần có sự thay đổi trong cách tiếp cận, tập trung vào kỹ năng nghề, kỹ năng chuyên gia và sự phối hợp đồng bộ. Doanh nghiệp cần tham gia vào quá trình đào tạo và đưa ra các tiêu chuẩn rõ ràng.
Giải pháp đồng bộ khơi thông dòng chảy lao động kỹ năng
Đồng quan điểm với các chuyên gia trên, ông Đỗ Năng Khánh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Xuất khẩu lao động Việt Nam (VAMAS) cho rằng, việc tăng cường kết nối giữa các doanh nghiệp tuyển dụng, đào tạo người lao động sang làm việc ở nước ngoài và các hiệp hội là cơ hội then chốt để nâng tầm lao động Việt trên thị trường quốc tế. Mục tiêu cốt lõi không chỉ là đưa người lao động ra nước ngoài, mà phải hướng tới các ngành nghề có giá trị gia tăng cao, đi đôi với đảm bảo chất lượng đào tạo chuẩn mực.
Theo ông Đỗ Năng Khánh, hiện nay, thời gian chuẩn bị cho lao động đi làm việc ở nước ngoài còn khá ngắn, khiến kiến thức và kỹ năng thực tế chưa đủ độ sâu, dẫn tới hạn chế về giá trị gia tăng và dễ phát sinh các rủi ro không đáng có trong quá trình làm việc. Để khắc phục bất cập này, các doanh nghiệp cung ứng lao động cần thay đổi tư duy, tham gia sâu và trực diện vào quy trình đào tạo ngay từ giai đoạn đầu. Thay vì phụ thuộc vào các thủ tục hành chính, doanh nghiệp cần chủ động định hình nguồn lực, thiết lập mạng lưới liên kết chặt chẽ với các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp để nâng cao chất lượng đầu ra.
“Vai trò của doanh nghiệp không nên chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm đơn hàng hay phát triển thị trường, mà phải là người đồng hành cùng người lao động ngay từ khâu đào tạo. Với sự hỗ trợ sát sao từ cơ quan quản lý nhà nước, sự chủ động này chính là nền tảng để tạo ra một hệ sinh thái xuất khẩu lao động bền vững”, ông Đỗ Năng Khánh khẳng định.
Bà Đặng Thị Huyền, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam lại cho rằng, việc gỡ khó cho dịch chuyển lao động kỹ năng cần một hệ sinh thái giải pháp đồng bộ. Trước hết, Nhà nước cần thiết lập hệ thống thông tin dự báo nhu cầu nhân lực quốc tế một cách chính xác, giúp người lao động và doanh nghiệp định hướng kịp thời. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp cũng cần khẩn trương xây dựng chuẩn đầu vào, đầu ra tương thích với quốc tế, trong đó chương trình đào tạo phải bám sát hơi thở thực tế của thị trường. Đặc biệt, cần tạo sự gắn kết thực chất giữa nhà trường, doanh nghiệp tuyển dụng, đào tạo người lao động sang làm việc ở nước ngoài và đối tác tiếp nhận ngay từ khâu tuyển chọn, đào tạo đến đánh giá đầu ra.
Mô hình đào tạo theo đơn đặt hàng cũng cần được nhân rộng để đảm bảo nguồn cung “đúng người, đúng việc”. Song song đó, việc nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và tăng cường giám sát chất lượng đào tạo cũng là những yếu tố tiên quyết để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển nghề nghiệp lâu dài cho người lao động.