Trong kỷ nguyên số, công nghệ truy xuất nguồn gốc góp phần minh bạch thông tin sản phẩm, bảo vệ người tiêu dùng và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững.
Khi người dùng quét mã QR Code của sản phẩm, điện thoại sẽ hiện thông báo truy xuất thông tin về nguồn gốc sản phẩm. Ảnh tư liệu, minh họa: Minh Quyết/TTXVN
Truy xuất nguồn gốc chính là “tấm hộ chiếu số” bảo chứng cho uy tín và chất lượng của hàng hóa Việt Nam khi tham gia vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Định danh và truy xuất nguồn gốc: Trụ cột quản lý thị trường hiện đại
Truy xuất nguồn gốc đang dần chuyển từ công cụ khuyến khích sang yêu cầu bắt buộc trong sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hóa. Từ chợ truyền thống đến siêu thị hiện đại, mỗi mã QR đã trở thành “hộ chiếu số” minh bạch, giúp khách hàng theo dõi trọn vẹn hành trình sản phẩm. Nhờ đó, hàng hóa Việt ngày càng an toàn và tự tin chinh phục thị trường lớn, mở ra dư địa mới cho nền kinh tế số minh bạch, bền vững.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã triển khai nhiều đề án quan trọng nhằm phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia, bao gồm: Đề án 100 của Chính phủ (Quyết định số 100/QĐ-TTg ngày 19/1/2019 phê duyệt Đề án “Triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc), Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc quốc gia, Hệ thống truy xuất nguồn gốc tại địa chỉ www.verigoods.vn của Bộ Công Thương, nền tảng NDATrace. Đây là nền tảng quan trọng giúp các bộ ngành, địa phương và doanh nghiệp từng bước triển khai truy xuất nguồn gốc một cách bài bản.
Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Đề án 100 của Chính phủ ngày 11/12/2025, ông Bùi Bá Chính, Giám đốc Trung tâm Mã số mã vạch quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, ngay sau khi Quyết định số 100/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực, việc triển khai truy xuất nguồn gốc hàng hóa tại địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực. Đến nay, toàn bộ 34 tỉnh/thành phố sau sắp xếp đã xây dựng Kế hoạch thực hiện Đề án “Triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc” trên địa bàn tỉnh. Tất cả các địa phương xác định nhóm sản phẩm chủ lực hoặc sản phẩm OCOP làm trọng tâm triển khai áp dụng truy xuất nguồn gốc, hơn 25.000 doanh nghiệp áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định nhấn mạnh: Sau 5 năm triển khai, Đề án 100 đã chứng minh tính đúng đắn của một chủ trương lớn. 5 năm qua là hành trình nỗ lực không ngừng của các cơ quan quản lý, các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp, các chuyên gia và đội ngũ các nhà khoa học.
Từ chỗ truy xuất nguồn gốc còn là khái niệm tương đối mới mẻ, đến nay Việt Nam đã xây dựng được nền tảng chính sách, mô hình triển khai và hệ thống kết nối tương đối đồng bộ góp phần minh bạch thông tin sản phẩm và bảo vệ người tiêu dùng và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Truy xuất nguồn gốc cần được nâng lên tầm hệ thống quản lý quốc gia, chuyển mạnh từ kết nối kỹ thuật sang liên thông dữ liệu, bảo đảm áp dụng thống nhất cho các ngành hàng chủ lực.
Theo Thứ trưởng, khi nhiều thị trường như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản triển khai hộ chiếu số sản phẩm và truy xuất bắt buộc, Việt Nam cần coi truy xuất nguồn gốc là “xương sống” của quản lý chất lượng và thương mại minh bạch. Đây cũng là yêu cầu phù hợp với định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW, đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm đột phá chiến lược.
Ứng dụng công nghệ trong truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa
Người dùng có thể sử dụng điện thoại thông minh quét mà QR Code truy xuất nguồn gốc của sản phẩm. Ảnh tư liệu: Minh Quyết/TTXVN
Theo các chuyên gia, hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều bất cập. Đầu tiên là tình trạng phân mảnh. Mỗi doanh nghiệp sử dụng một giải pháp khác nhau, dẫn đến việc thiếu liên thông dữ liệu. Điều này tạo ra các “ốc đảo số” và làm giảm hiệu quả quản lý chuỗi cung ứng.
Bên cạnh đó, nhiều hệ thống chỉ lưu trữ dữ liệu dạng tĩnh, chưa cập nhật theo thời gian thực. Điều này gây khó khăn khi cần truy vết nhanh trong các trường hợp khẩn cấp như sự cố an toàn thực phẩm hoặc thu hồi sản phẩm. Tại các quốc gia phát triển, truy xuất nguồn gốc đã được tích hợp với hệ thống AI để phân tích dữ liệu, phát hiện bất thường và hỗ trợ cơ quan quản lý đưa ra cảnh báo sớm
Về công nghệ, dù Việt Nam có nhiều giải pháp như QR, công nghệ nhận dạng bằng tần số vô tuyến (RFID), công nghệ chuỗi khối (Blockchain), Internet vạn vật (IoT)… nhưng mức độ ứng dụng chưa đồng đều. QR tĩnh vẫn phổ biến vì chi phí thấp, trong khi QR động, RFID hay Blockchain - những giải pháp bảo mật cao hơn - chưa được áp dụng rộng rãi do hạn chế về nhận thức và đầu tư.
Trước những bất cập này, Chính phủ và các cơ quan chức năng đã và đang nỗ lực xây dựng khung pháp lý vững chắc và đồng bộ, tạo cơ hội để bứt phá trong chuyển đổi số. Trong đó, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (sửa đổi) năm 2025 có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 là bước đột phá quan trọng trong quản lý rủi ro và thúc đẩy chuyển đổi số lĩnh vực chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Một điểm đổi mới quan trọng là việc luật hóa khái niệm “hộ chiếu số của sản phẩm”. Khoản 8 Điều 3 của Luật quy định rõ, đây là tập hợp các thông tin liên quan đến sản phẩm và chuỗi cung ứng, được lưu trữ dưới dạng mã vạch hoặc các phương thức phù hợp khác, bảo đảm có thể truy cập và đọc được thông qua thiết bị kỹ thuật số. Điều này giúp người tiêu dùng và cơ quan quản lý dễ dàng truy xuất nguồn gốc, quy trình sản xuất, đánh giá chất lượng sản phẩm.
Đặc biệt, Điều 6d quy định, truy xuất nguồn gốc là bắt buộc đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc nhóm có mức độ rủi ro cao, với lộ trình thực hiện do các cơ quan liên quan xác định. Việc áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc số không chỉ nâng cao tính minh bạch mà còn góp phần ngăn ngừa gian lận thương mại, tăng cường niềm tin của người tiêu dùng vào sản phẩm trong nước.
Mới đây, ngày 23/1/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 37/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là về ứng dụng công nghệ trong quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Ứng dụng mã số, mã vạch trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.
Nghị định quy định cụ thể về xây dựng và ứng dụng nền tảng công nghệ trong quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Trong đó, về ứng dụng công nghệ số để thu thập, lưu trữ và chia sẻ, Nghị định nêu rõ khuyến khích tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sử dụng mã số, mã vạch bao gồm mã hóa một chiều, mã hóa hai chiều như mã QR, mã hai chiều dạng ma trận dữ liệu (Datamatrix), công nghệ nhận dạng bằng tần số vô tuyến (RFID), công nghệ giao tiếp trường gần (NFC) và các công nghệ phù hợp khác, ưu tiên kết hợp các công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) để thu thập, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành hướng dẫn cung cấp thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa để thu thập, lưu trữ và chia sẻ giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định ứng dụng mã số, mã vạch trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Theo đó, khuyến khích tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh ứng dụng mã số, mã vạch trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quyết định việc ứng dụng mã số, mã vạch trên nền tảng công nghệ như công nghệ chuỗi khối (Blockchain), Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) và các công nghệ mới khác phù hợp với nhu cầu.
Khi đã lựa chọn ứng dụng mã số, mã vạch trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thực hiện theo quy định liên quan tại Nghị định này.
Hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa do tổ chức, cá nhân sử dụng phải bảo đảm đầy đủ quá trình truy xuất nguồn gốc theo các quy định trong tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài, tiêu chuẩn cơ sở đáp ứng quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; được công bố hợp chuẩn theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Trường hợp có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, tổ chức, cá nhân phải thực hiện công bố hợp quy theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Dữ liệu truy xuất nguồn gốc của sản phẩm, hàng hóa trong hệ thống truy xuất nguồn gốc bao gồm các thông tin như: Tên sản phẩm, hàng hóa; hình ảnh sản phẩm, hàng hóa; tên đơn vị sản xuất, kinh doanh; địa chỉ đơn vị sản xuất, kinh doanh; xuất xứ sản phẩm, hàng hóa; thương hiệu, nhãn hiệu, số lô/mẻ hoặc số seri sản phẩm (nếu có); hạn sử dụng của sản phẩm, hàng hóa (nếu có).
Về quản lý nhà nước, Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ giữ vai trò đầu mối trong hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Bộ có trách nhiệm xây dựng và công bố tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về mã số, mã vạch và truy xuất nguồn gốc; hướng dẫn nâng cao năng lực kỹ thuật; vận hành và nâng cấp Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc quốc gia; quản lý sử dụng các loại mã truy vết và vật mang dữ liệu.
Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực phối hợp triển khai truy xuất nguồn gốc trong phạm vi chức năng, bảo đảm kết nối dữ liệu với Cổng thông tin quốc gia, đồng thời thực hiện kiểm tra, xử lý vi phạm. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra truy xuất nguồn gốc tại địa phương. Đáng chú ý, Bộ Công an được giao chủ trì xây dựng, vận hành và nâng cấp nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc, bảo đảm an toàn dữ liệu và đúng thẩm quyền quản lý.
Truy xuất nguồn gốc đang trở thành một trong những hạ tầng quan trọng của nền kinh tế số Việt Nam. Việc chuẩn hóa, liên thông và phát triển công nghệ truy xuất nguồn gốc sẽ giúp xây dựng thị trường minh bạch, nâng cao niềm tin của người tiêu dùng và tăng năng lực cạnh tranh quốc gia.