05:11 03/05/2026

Công nghệ nâng tầm thủy sản - Bài 1: Khẳng định vị thế của ngành kinh tế mũi nhọn

Từ một ngành dựa chủ yếu vào lợi thế tự nhiên và lao động truyền thống, thủy sản Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng xanh, minh bạch chuỗi cung ứng và cạnh tranh bằng công nghệ.

Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng nhiều chiến lược, quy hoạch chuyên ngành, đang tạo nền tảng để thủy sản chuyển từ “sản xuất nhiều”, sang “sản xuất thông minh”, từ giá trị đơn, sang đa giá trị và từ khai thác tài nguyên, sang kinh tế biển bền vững.

Chú thích ảnh
Thủy sản Việt Nam khẳng định vị thế ngành kinh tế mũi nhọn.

Bài 1: Khẳng định vị thế của ngành kinh tế mũi nhọn

Giảm khai thác, tăng nuôi trồng công nghệ cao, hiện đại hóa chế biến, số hóa quản lý tàu cá và truy xuất nguồn gốc… là những chuyển động lớn đang tái định hình ngành thủy sản Việt Nam. Với kim ngạch xuất khẩu đạt 11,3 tỷ USD năm 2025, ngành không chỉ giữ vai trò trụ cột tăng trưởng nông nghiệp, mà còn từng bước khẳng định vị thế là một ngành kinh tế mũi nhọn trong cấu trúc kinh tế biển quốc gia.

Từ lợi thế tự nhiên đến năng lực cạnh tranh mới

Năm 2025, dù chịu tác động của thiên tai, biến động thị trường và chi phí đầu vào gia tăng, lĩnh vực thủy sản vẫn đạt sản lượng 9,5 triệu tấn, mức cao nhất từ trước đến nay, với kim ngạch xuất khẩu đạt 11,32 tỷ USD. Những con số này tiếp tục cho thấy sức chống chịu và vai trò quan trọng của ngành trong nền kinh tế.

Ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhận định: Nông nghiệp tiếp tục là “trụ đỡ” của nền kinh tế, do đó, cần được bố trí nguồn lực tương xứng trong giai đoạn phát triển mới. Với thủy sản, đây không chỉ là ngành xuất khẩu lớn, mà còn gắn chặt với sinh kế của hàng triệu lao động ven biển, vùng đồng bằng và khu vực nông thôn.

Nhiều năm qua, thủy sản là một trong số ít ngành hàng duy trì được năng lực cạnh tranh quốc tế khá rõ nét. Từ tôm, cá tra, cá ngừ đến nhuyễn thể, sản phẩm thủy sản Việt Nam đã hiện diện tại nhiều thị trường khó tính như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác.

Tuy nhiên, bối cảnh cạnh tranh hiện nay đã thay đổi. Thế giới không còn chỉ đặt hàng sản lượng mà yêu cầu sản phẩm xanh hơn, sạch hơn, phát thải thấp hơn và có khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Điều đó đồng nghĩa lợi thế tự nhiên không còn đủ để bảo đảm tăng trưởng dài hạn.

Chú thích ảnh
Ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tham quan tại Triển lãm Quốc tế Khoa học, Công nghệ thủy sản Việt Nam lần thứ nhất - VinaFIS Expo 2026.

Theo TS Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thủy sản. Là quốc gia nhiệt đới ven biển, Việt Nam có đa dạng sinh học cao, hệ sinh thái nuôi trồng phong phú, từ nước ngọt, nước lợ đến nuôi biển xa bờ.

Riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục là trung tâm sản xuất lớn nhất cả nước với lợi thế nổi trội cho nuôi cá tra, tôm nước lợ và nhiều loại thủy sản khác. Cùng với đó là năng lực chế biến ngày càng hiện đại, tạo điều kiện để ngành hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nhưng những lợi thế đó đang chịu sức ép lớn từ biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, ô nhiễm vùng nuôi, chi phí đầu vào tăng cao và các yêu cầu kỹ thuật ngày càng khắt khe từ thị trường nhập khẩu. Cảnh báo “thẻ vàng” IUU của Ủy ban châu Âu (EC) cũng cho thấy yêu cầu cấp thiết phải đổi mới quản trị nghề cá.

Nói cách khác, thủy sản Việt Nam đang bước vào giai đoạn cạnh tranh bằng quản trị, dữ liệu và công nghệ thay vì chỉ cạnh tranh bằng sản lượng.

Một trong những chuyển dịch rõ nhất giai đoạn 2021 - 2025 là thay đổi cơ cấu sản xuất theo hướng giảm dần khai thác tự nhiên, tăng nhanh nuôi trồng. Theo số liệu ngành, sản lượng nuôi trồng tăng từ 4,88 triệu tấn lên 6,11 triệu tấn; trong khi sản lượng khai thác giảm bình quân khoảng 0,9%/năm nhằm bảo vệ nguồn lợi và phù hợp cam kết chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Đây là thay đổi mang tính chiến lược. Trong nhiều năm, khai thác biển từng giữ vai trò quan trọng về sinh kế và cung ứng nguyên liệu. Nhưng khi nguồn lợi suy giảm, chi phí nhiên liệu tăng và yêu cầu quốc tế ngày càng cao, mô hình phát triển dựa chủ yếu vào khai thác đã bộc lộ giới hạn.

Nuôi trồng, đặc biệt là nuôi công nghệ cao, đang trở thành động lực tăng trưởng mới. Tôm nước lợ hiện đóng góp trên 40% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Cá tra đạt sản lượng khoảng 1,98 triệu tấn và hướng tới mục tiêu 2 - 2,5 triệu tấn vào năm 2030. Nhiều đối tượng giá trị cao khác như rong tảo, trai ngọc, tôm hùm, cá biển, nhuyễn thể cũng còn nhiều dư địa phát triển.

Chú thích ảnh
TS Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư chia sẻ về định hướng chiến lược phát triển thủy sản bền vững đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Công nghệ mở đường tăng trưởng bền vững

Nếu trước đây công nghệ chủ yếu nằm trong phòng thí nghiệm, thì nay đã hiện diện ngày càng rõ tại ao nuôi, tàu cá, cảng cá và nhà máy chế biến.

Trong nuôi trồng, nhiều mô hình thâm canh, siêu thâm canh, tuần hoàn nước, sử dụng chế phẩm sinh học, cảm biến quan trắc môi trường, tự động hóa cho ăn… được triển khai rộng hơn. Những giải pháp này giúp giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất và hạn chế tác động môi trường.

Theo báo cáo chuyên ngành giai đoạn 2021 - 2025, có 113 nhiệm vụ khoa học công nghệ được triển khai trong lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư. Đến nay đã nghiệm thu 60 nhiệm vụ, gồm đề tài trọng điểm, đề tài cấp bộ, dự án sản xuất thử nghiệm và nhiệm vụ nguồn gen.

Các cơ sở nghiên cứu đã chọn tạo được 12 giống mới, 27 tiến bộ kỹ thuật được công nhận và chuyển giao vào sản xuất. Nhiều giống tôm, cá tăng trưởng nhanh, sạch bệnh, kháng bệnh, thích ứng biến đổi khí hậu đã được đưa vào các vùng nuôi trọng điểm.

Không chỉ mạnh ở sản xuất nguyên liệu, Việt Nam hiện có 823 cơ sở chế biến thủy sản quy mô công nghiệp, trong đó khoảng 82% là cơ sở đông lạnh hiện đại. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao giá trị gia tăng, bởi trong cạnh tranh toàn cầu, quốc gia nào làm chủ chế biến sâu, logistics lạnh và thương hiệu sẽ nắm phần giá trị lớn hơn.

Nhiều doanh nghiệp đầu ngành như Minh Phú, Vĩnh Hoàn... đã đóng vai trò dẫn dắt, đưa sản phẩm vào các thị trường khó tính và mở rộng danh mục hàng giá trị gia tăng. Thực tế này cho thấy thủy sản Việt Nam không còn chỉ xuất khẩu nguyên liệu sơ chế, mà đang dịch chuyển sang mô hình công nghiệp thực phẩm hiện đại.

Một yêu cầu cấp bách hiện nay là minh bạch hóa chuỗi cung ứng. Với nghề cá khai thác, điều đó đồng nghĩa phải quản lý đội tàu khoảng 79.000 - 80.000 chiếc bằng công nghệ số; tăng cường nhật ký điện tử, giám sát hành trình, truy xuất nguồn gốc nguyên liệu qua cảng cá.

Với nuôi trồng, đó là số hóa vùng nuôi, nhật ký sản xuất, dữ liệu môi trường, dịch bệnh, thức ăn, thuốc thú y và truy xuất từng lô hàng.

Nghị quyết số 57-NQ/TW được xem là cú hích quan trọng khi xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quốc gia. Với thủy sản, tinh thần này đặc biệt phù hợp bởi đây là ngành sản xuất phân tán, đa tác nhân, trải dài nhiều vùng địa lý và phụ thuộc lớn vào dữ liệu thời gian thực.

Khi dữ liệu được kết nối, ngành có thể chuyển từ phản ứng bị động sang điều hành chủ động: cảnh báo môi trường sớm, dự báo dịch bệnh, tối ưu thức ăn, kiểm soát tàu cá và đáp ứng nhanh hơn yêu cầu thị trường.

Chú thích ảnh
Theo định hướng đến năm 2030, ngành thủy sản phấn đấu tăng trưởng 3 - 4%/năm.

Theo định hướng đến năm 2030, ngành thủy sản phấn đấu tăng trưởng 3 - 4%/năm; tổng sản lượng đạt 9,8 triệu tấn, trong đó nuôi trồng 7 triệu tấn và khai thác 2,8 triệu tấn. Đây là mục tiêu khả thi nhưng không dễ dàng.

Giai đoạn tới, cạnh tranh quốc tế sẽ khốc liệt hơn; các hàng rào về môi trường, lao động, truy xuất nguồn gốc, chống phá rừng, phát thải carbon… ngày càng dày đặc. Nếu không đổi mới công nghệ đủ nhanh, lợi thế hiện có có thể bị bào mòn.

Ngược lại, nếu tận dụng tốt cơ hội từ chuyển đổi số, công nghệ sinh học, tự động hóa, kinh tế tuần hoàn và chế biến sâu, thủy sản Việt Nam có thể bước lên nấc thang giá trị mới.

Từ thực tế hiện nay có thể thấy, danh xưng “ngành kinh tế mũi nhọn” không chỉ mang ý nghĩa khích lệ, mà thủy sản đang tạo kim ngạch xuất khẩu hàng chục tỷ USD, góp phần giữ sinh kế cho hàng triệu lao động, thúc đẩy kinh tế nông thôn và khẳng định vị thế Việt Nam trên bản đồ thực phẩm thế giới.

Nhưng để giữ vững vị thế đó, ngành phải đi tiếp bằng con đường mới: khoa học công nghệ, quản trị hiện đại và phát triển bền vững. Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu ngày càng khắt khe, lợi thế của thủy sản Việt Nam sẽ không chỉ là biển rộng hay vùng nuôi lớn, mà là khả năng tạo ra giá trị cao hơn trên cùng một đơn vị tài nguyên.

Bài cuối: Khai mở 'mỏ vàng' bằng công nghệ cao

Bài, ảnh: Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc