Việc Việt Nam xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược được đánh giá là bước đi quan trọng nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, để những lĩnh vực này thực sự tạo ra đột phá, điều cần thiết không chỉ là nguồn lực đầu tư mà còn là các cơ chế đủ linh hoạt để khuyến khích sáng tạo, chấp nhận rủi ro và thu hút nhân tài.
Nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ. Ảnh minh họa: TTXVN
Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, PGS.TS Trần Lê Hưng, giảng viên Đại học Gustave Eiffel (Pháp), nhắc lại rằng nhiều quốc gia đã đầu tư rất lớn cho các ngành công nghệ mũi nhọn nhưng kết quả không đạt như kỳ vọng. Nguyên nhân không hẳn do thiếu vốn hay thiếu nhân lực mà chủ yếu xuất phát từ các rào cản trong cơ chế quản lý, chính sách hỗ trợ và cách thức tổ chức thực hiện.
Theo PGS.TS Trần Lê Hưng, người cũng được biết tới với tư cách thành viên Mạng lưới Trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu, trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng, thách thức lớn nhất đối với các quốc gia là làm sao để chính sách công có thể theo kịp tốc độ đổi mới. Kinh nghiệm của châu Âu cho thấy đây là bài toán không dễ giải quyết.
Trong nhiều năm qua, Liên minh châu Âu (EU) đã xây dựng nhiều quy định tiên phong nhằm quản lý dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI) như Quy định bảo vệ dữ liệu chung (GDPR) hay Đạo luật AI (AI Act). Những quy định này góp phần bảo vệ quyền riêng tư và bảo đảm an toàn cho người dùng, song cũng làm gia tăng đáng kể chi phí tuân thủ đối với doanh nghiệp công nghệ. Không ít công ty khởi nghiệp phải dành một phần đáng kể nguồn lực để đáp ứng các yêu cầu pháp lý trước khi có thể đưa sản phẩm ra thị trường. Điều đó phần nào làm giảm tốc độ đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Từ thực tế này, PGS.TS Trần Lê Hưng cho rằng Việt Nam cần xây dựng cơ chế quản lý theo hướng linh hoạt hơn, phù hợp với từng loại hình công nghệ và mức độ rủi ro khác nhau. Thay vì áp dụng cùng một cách quản lý cho mọi lĩnh vực, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp thử nghiệm các công nghệ mới trong khuôn khổ được kiểm soát phù hợp.
Nhà nghiên cứu trẻ thuộc Đại học Gustave Eiffel đặc biệt nhấn mạnh vai trò của các cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox), cho phép doanh nghiệp kiểm chứng sản phẩm mới trong môi trường thực tế, đồng thời giúp cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách dựa trên kết quả triển khai.
Một nội dung quan trọng khác là tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Theo PGS.TS Trần Lê Hưng, ở nhiều nước đang phát triển, không ít nhà khoa học có xu hướng lựa chọn những đề tài an toàn thay vì các hướng nghiên cứu đột phá vì lo ngại rủi ro trong quá trình thực hiện.
PGS.TS Trần Lê Hưng cho rằng nghiên cứu khoa học có bản chất khác với các hoạt động đầu tư hay mua sắm thông thường. Trong khoa học, thất bại là một phần tự nhiên của quá trình khám phá tri thức mới. Nếu chỉ lựa chọn những đề tài chắc chắn thành công thì rất khó tạo ra các phát minh có tính đột phá.
Dẫn kinh nghiệm từ Cơ quan Nghiên cứu các Dự án Quốc phòng Tiên tiến (DARPA), PGS.TS Trần Lê Hưng cho biết nhiều dự án được triển khai với mức độ rủi ro rất cao. Không ít dự án thất bại, nhưng chính từ những dự án thành công đã xuất hiện nhiều công nghệ có ảnh hưởng sâu rộng như Internet hay hệ thống định vị toàn cầu GPS.
Theo ông Trần Lê Hưng, điều quan trọng là cần phân biệt rõ giữa thất bại trong nghiên cứu khoa học với sai phạm trong quản lý tài chính. Một đề tài không đạt kết quả như kỳ vọng không đồng nghĩa với việc sử dụng ngân sách không hiệu quả nếu quá trình nghiên cứu được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định và được đánh giá khách quan.
PGS.TS Trần Lê Hưng cũng lưu ý đến cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ. Theo ông, hỗ trợ tài chính là cần thiết, nhưng nếu thiết kế không phù hợp có thể tạo ra tâm lý phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Để tránh tình trạng này, các chương trình hỗ trợ cần gắn với những mục tiêu kỹ thuật cụ thể và có thể đo lường được. Việc giải ngân nên thực hiện theo từng giai đoạn dựa trên kết quả đạt được thay vì cấp kinh phí một lần.
Bên cạnh đó, ông đề xuất tăng cường các chương trình đặt hàng công nghệ hoặc các cuộc thi đổi mới sáng tạo, trong đó Nhà nước đưa ra những bài toán cần giải quyết, còn doanh nghiệp cạnh tranh để tìm ra giải pháp tốt nhất. Cách tiếp cận này vừa khuyến khích sáng tạo vừa giúp sử dụng hiệu quả nguồn lực công.
Theo ông, nhân lực chất lượng cao mới là yếu tố quyết định thành công lâu dài của các chương trình công nghệ chiến lược. Việt Nam khó có thể cạnh tranh với Mỹ hay Singapore về mức thu nhập dành cho các chuyên gia công nghệ hàng đầu, nhưng vẫn có những lợi thế riêng để thu hút nhân tài. Ông cho rằng nhiều nhà khoa học và chuyên gia công nghệ không chỉ quan tâm đến thu nhập mà còn mong muốn được tham gia những dự án có ý nghĩa, có khả năng tạo ra tác động xã hội và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Theo PGS.TS Trần Lê Hưng, Việt Nam đang sở hữu nguồn dữ liệu phong phú trong các lĩnh vực như y tế, giao thông, nông nghiệp và quản lý hành chính. Nếu được khai thác hiệu quả, đây có thể trở thành nền tảng quan trọng cho nghiên cứu và phát triển AI. Ông cũng đề xuất xây dựng các cơ chế thuận lợi hơn để thu hút chuyên gia quốc tế và cộng đồng trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia các chương trình khoa học - công nghệ trong nước.
Liên quan đến 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, PGS.TS Trần Lê Hưng cho rằng Việt Nam cần hướng tới mục tiêu tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu thay vì chỉ tập trung vào thị trường trong nước. Theo ông, thay vì cố gắng phát triển toàn bộ chuỗi sản xuất, Việt Nam nên lựa chọn những lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh để tập trung nguồn lực. Mục tiêu không chỉ là tạo ra sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam mà còn là đưa các công nghệ và linh kiện do Việt Nam phát triển tham gia vào các sản phẩm được sử dụng trên phạm vi toàn cầu.
Trong giai đoạn tới, PGS.TS Trần Lê Hưng đề xuất ưu tiên một số lĩnh vực có khả năng tạo đột phá như AI, công nghệ 5G và 6G, robot và tự động hóa nông nghiệp, công nghệ pin và lưu trữ năng lượng, cũng như các công nghệ phục vụ các dự án hạ tầng lớn như điện hạt nhân và đường sắt tốc độ cao.