07:17 29/07/2026

Chuyển hóa di sản thành nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa

Với kho tàng di sản đồ sộ, Việt Nam có một nguồn vốn quý mà không nhiều quốc gia có được. Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, việc chuyển hóa di sản thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và phát triển công nghiệp văn hóa là yêu cầu tất yếu đề phát huy sức mạnh mềm quốc gia, tạo động lực để phát triển đất nước.

Hiện thực hóa mục tiêu Nghị quyết 80

Chú thích ảnh
Một buổi biểu diễn phục vụ Lễ hội Kỳ Yên tại các di tích, đình làng. Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN

Sáu tháng sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, việc triển khai thực hiện Nghị quyết đã có nhiều chuyển động tích cực. Từ Trung ương đến cơ sở, các bộ, ngành, địa phương đã khẩn trương xây dựng chương trình hành động; nhiều cơ chế, chính sách quan trọng từng bước được ban hành, tạo nền tảng để hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết.

Từ thực tiễn sáu tháng triển khai, tại Phiên họp lần thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhìn thẳng vào những hạn chế còn tồn tại, chỉ rõ khoảng cách từ chủ trương đến sản phẩm, từ chương trình hành động đến tác động thực tế vẫn còn lớn; đồng thời lần đầu tiên nhận diện rõ "bốn khoảng trống" và quán triệt "ba chuyển dịch lớn" như những định hướng có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển văn hóa trong giai đoạn mới.

Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ, Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, “bốn khoảng trống” mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ ra sau 6 tháng triển khai Nghị quyết 80, đó là khoảng trống về sức hấp dẫn của giá trị Việt Nam trên môi trường số; về chuyển hóa di sản thành dữ liệu, tri thức và tài sản trí tuệ; về năng lực sáng tạo sản phẩm có sức cạnh tranh; về thể chế và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Cùng với “ba chuyển dịch lớn” được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước quán triệt đã cụ thể hóa sâu sắc tư duy phát triển của Nghị quyết 80. Đó là chuyển từ coi văn hóa như một lĩnh vực sang xác lập văn hóa là trụ cột phát triển; chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển đồng thời trong không gian thực và không gian số; chuyển từ bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp bảo tồn với sáng tạo, hình thành tri thức, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.

Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cho rằng, những đánh giá thẳng thắn, thực chất của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước sau sáu tháng triển khai Nghị quyết đã chỉ rõ khoảng cách từ chủ trương đến sản phẩm, từ chương trình đến tác động thực tế vẫn còn lớn. Nguồn chi ngân sách cho văn hóa hiện mới đạt khoảng 1,5%, trong khi Nghị quyết yêu cầu tối thiểu 2%. Các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về phát triển văn hóa Việt Nam có thể xem là bước chuyển từ định hướng chiến lược sang chỉ đạo hành động, từ việc xác định “phải làm gì” sang làm rõ hơn “làm như thế nào, tập trung vào đâu và đánh giá kết quả đầu ra là gì?”.

Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề cao trách nhiệm tổ chức thực hiện, trong đó, nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, xây dựng các bộ chỉ số, phát triển chủ quyền văn hóa số, chuẩn hóa dữ liệu di sản và thúc đẩy công nghiệp văn hóa… cho thấy cách tiếp cận quản trị dựa trên mục tiêu, dữ liệu và kết quả. Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng đã cụ thể hóa định hướng hành động, xác định rõ các trọng tâm cần tập trung trong giai đoạn tiếp theo, đưa việc triển khai Nghị quyết 80 được nhanh hơn từ nhận thức đến hành động và kết quả tác động thực tế trong đời sống.

Một trong những khoảng trống mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhắc đến là năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia. Việt Nam sở hữu hơn 40.000 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh. Tuy nhiên, phần lớn kho tàng di sản ấy vẫn chưa được số hóa, chuẩn hóa và kết nối thành dữ liệu dùng chung; chưa được bảo hộ, khai thác hiệu quả dưới dạng tài sản trí tuệ; chưa trở thành tri thức số, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh đây chính là khoảng trống cần được lấp đầy để biến vốn văn hóa thành sức mạnh mềm và động lực phát triển mới của đất nước, đồng thời cũng lưu ý, không được chạy theo tỷ lệ để số hóa hình thức.

Theo Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam Đỗ Hồng Quân, yêu cầu chuyển hóa di sản và vốn văn hóa thành dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực phát triển, đồng thời nhấn mạnh không được chạy theo tỷ lệ số hóa một cách hình thức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã “chạm” đúng vào hạn chế khá phổ biến trong quá trình chuyển đổi số văn hóa hiện nay. Ở một số nơi, số hóa vẫn được hiểu chủ yếu là chụp ảnh, quét tài liệu, lập danh sách hiện vật hoặc xây dựng một trang thông tin. Những công việc đó cần thiết, nhưng mới chỉ là bước đầu. Nếu dữ liệu thiếu chuẩn hóa, không có thông tin về nguồn gốc, bản quyền, tình trạng pháp lý, không liên thông và không thể tái sử dụng, thì dữ liệu vẫn nằm trong những “kho kín”, chưa tạo ra giá trị mới. Khi được chuẩn hóa và kết nối, dữ liệu văn hóa có thể phục vụ nghiên cứu, giáo dục, truyền thông, công nghiệp văn hóa và phát triển các ứng dụng trí tuệ nhân tạo dựa trên nguồn tri thức đáng tin cậy của Việt Nam.

Hình thành hệ sinh thái hoàn chỉnh

Chú thích ảnh
Thế hệ trẻ tìm hiểu về cây di sản tại Di tích lịch sử Giàn Gừa. Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN

Chia sẻ quan điểm về việc chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia đang là khoảng trống, là rào cản lớn cho phát triển văn hóa hiện nay, Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa Thăng Long, cho rằng, rào cản lớn nhất hiện nay không phải là chúng ta thiếu di sản, thiếu dữ liệu hay thiếu tiềm năng sáng tạo, mà là chưa hình thành được một hệ sinh thái đủ hoàn chỉnh để chuyển hóa di sản thành dữ liệu, từ dữ liệu thành tri thức, từ tri thức thành tài sản trí tuệ và từ tài sản trí tuệ thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế.

Hiện nay, việc số hóa di sản ở nhiều nơi vẫn chủ yếu dừng ở khâu sưu tầm, lưu trữ, lập hồ sơ hoặc xây dựng các cơ sở dữ liệu riêng lẻ. Dữ liệu còn phân tán, thiếu chuẩn chung và chưa liên thông. Quan trọng hơn, chúng ta chưa giải quyết đầy đủ các vấn đề về quyền sở hữu, quyền khai thác, bản quyền, quyền của cộng đồng chủ thể di sản và cơ chế chia sẻ lợi ích. Đây là những điểm nghẽn khiến dữ liệu văn hóa chưa thực sự trở thành một loại tài sản có thể khai thác và tái đầu tư.

Để biến kho tàng di sản thành tài sản đóng góp trực tiếp cho nền kinh tế số, Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan cho rằng, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp. Trước hết, cần xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia theo hướng số hóa có hệ thống, chuẩn hóa, liên thông và có khả năng cập nhật. Tiếp đó, cần xác lập khung pháp lý rõ ràng cho việc quản trị và khai thác dữ liệu di sản, trong đó bảo đảm hài hòa giữa lợi ích quốc gia, quyền của cộng đồng và quyền của các chủ thể sáng tạo. Cuối cùng, cần hình thành các đội ngũ và doanh nghiệp có khả năng kết nối văn hóa với công nghệ, kinh doanh và sáng tạo. Từ dữ liệu di sản có thể phát triển phim ảnh, âm nhạc, trò chơi, thời trang, thiết kế, xuất bản, giáo dục số, du lịch trải nghiệm và nhiều sản phẩm công nghiệp văn hóa khác.

“Nói cách khác, chúng ta cần chuyển từ tư duy ‘số hóa để lưu giữ’ sang ‘số hóa để kết nối, sáng tạo và phát triển’. Khi đó, di sản không chỉ là ký ức của quá khứ, mà trở thành nguồn dữ liệu, tri thức, tài sản trí tuệ và nguồn lực sáng tạo đóng góp trực tiếp cho nền kinh tế số và sức mạnh mềm của Việt Nam”, Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan nhấn mạnh.

Số liệu thống kê cho thấy, hiện nay, tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp văn hóa mới đạt khoảng 4% GDP, trong khi Nghị quyết 80 đưa ra mục tiêu, phấn đấu đến 2030, đóng góp của ngành công nghiệp văn hóa đạt 7% GDP, đến năm 2045 là 9%.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, để đạt được mục tiêu đề ra, điều quan trọng là cần xây dựng được một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa đủ hoàn chỉnh, trong đó thể chế và chính sách đóng vai trò tạo lập thị trường, giảm rủi ro và khuyến khích đầu tư dài hạn. Cụ thể, hiện nay Việt Nam còn thiếu là một khung thể chế đủ đồng bộ cho công nghiệp văn hóa. Các ngành như điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, quảng cáo, thời trang, thiết kế, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử… chịu sự điều chỉnh của nhiều Luật và cơ chế khác nhau. Vì vậy, cần có cách tiếp cận liên ngành, thống nhất hơn về khái niệm, phạm vi, dữ liệu thống kê, cơ chế quản lý và chính sách phát triển công nghiệp văn hóa.

Chú thích ảnh
Các đại biểu và người dân tham quan không gian trưng bày Bảo tàng Hà Nội. Ảnh: Tuyết Mai/TTXVN

Bên cạnh đó, cần có chính sách tài chính và đầu tư đủ sức hấp dẫn, bởi đầu tư vào công nghiệp sáng tạo thường có rủi ro cao, tài sản chủ yếu là ý tưởng, bản quyền và tài sản vô hình. Vì vậy, cần phát triển các quỹ đầu tư cho văn hóa và sáng tạo, cơ chế đồng đầu tư công - tư, ưu đãi thuế, tín dụng phù hợp và các mô hình quỹ hỗ trợ sản xuất, phân phối, quảng bá sản phẩm văn hóa.

Cùng với đó là cơ chế bảo vệ và khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ. Nếu bản quyền không được bảo vệ, doanh nghiệp sẽ không có động lực đầu tư dài hạn. Ngược lại, khi quyền sở hữu trí tuệ được xác lập rõ ràng, tài sản văn hóa có thể trở thành tài sản thế chấp, gọi vốn, chuyển nhượng và phát triển thành chuỗi giá trị. Cuối cùng là cần xây dựng một hệ sinh thái kết nối giữa nghệ sĩ, doanh nghiệp, công nghệ, tài chính, giáo dục, truyền thông và thị trường quốc tế.

Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan cho rằng, Nhà nước không nhất thiết phải làm thay thị trường, nhưng cần làm tốt vai trò kiến tạo thể chế, đầu tư hạ tầng, giảm rủi ro ban đầu và mở rộng không gian sáng tạo. Khi tất cả những yếu tố đó được kết nối đồng bộ, công nghiệp văn hóa mới thực sự trở thành một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Các chuyên gia cho rằng, khi các giải pháp về thể chế, công nghệ, nguồn lực và con người được triển khai đồng bộ, biến di sản thành tài sản… văn hóa sẽ trở thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ, góp phần tạo dựng năng lực cạnh tranh và sức mạnh mềm của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Phương Lan (TTXVN)