05:20 29/05/2026

Chuyển đổi xanh nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long bền vững

Chiều ngày 29/5, UBND thành phố Cần Thơ, Đại học Cần Thơ cùng Báo Tuổi Trẻ phối hợp tổ chức Hội thảo “Chuyển đổi xanh trong nông nghiệp: Từ công nghệ đến thị trường” nhằm tìm giải pháp thúc đẩy mô hình lúa phát thải thấp trong thực tiễn.

Lợi thế song hành cùng thách thức từ đồng ruộng

Chú thích ảnh
Các chuyên gia, doanh nghiệp, nhà quản lý cùng chia sẻ giải pháp chuyển đổi xanh trong nông nghiệp.

Là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm lớn nhất cả nước, Đồng bằng sông Cửu Long đóng vai trò then chốt khi đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, trên 90% lượng gạo xuất khẩu và chiếm 31,37% GDP toàn ngành nông nghiệp.

Chuyên gia kinh tế Trần Hữu Hiệp khẳng định, vùng đất này sở hữu lợi thế rất lớn cho lộ trình chuyển đổi xanh nhờ hệ sinh thái nông nghiệp đặc thù và năng lực thích ứng vượt trội. Đó cũng là lý do Chính phủ lựa chọn Đồng bằng sông Cửu Long để xây dựng vùng nguyên liệu lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp — một đề án mà Việt Nam đang đóng vai trò tiên phong trên toàn thế giới. Thêm vào đó, người nông dân miền Tây vô cùng nhạy bén với công nghệ mới, minh chứng là việc ứng dụng thành công thiết bị bay không người lái (drone) và các công cụ hiện đại vào sản xuất.

Tuy nhiên, Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu (xâm nhập mặn, hạn hán, sụt lún đất), chi phí đầu vào tăng cao, cùng thực trạng sản xuất manh mún, lạm dụng hóa chất làm giảm giá trị gia tăng và khó đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của thị trường. Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước bước ngoặt lịch sử khi vừa phải gánh vác trọng trách an ninh lương thực, vừa phải tiên phong trong lộ trình cắt giảm phát thải, hướng tới một nền nông nghiệp xanh và bền vững.

Từ thực tiễn kinh doanh, ông Trần Hồ Văn Khoa, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Techpal Sóc Trăng cho biết, đơn vị có 6 năm đầu tư công nghệ xanh tại Đồng bằng sông Cửu Long đã thẳng thắn chỉ ra những rào cản nội tại trong canh tác nông nghiệp xanh của khu vực. Theo ông Khoa, phần lớn nông dân vẫn quen tư duy canh tác dùng thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Trong khi đó, để đất đạt tiêu chuẩn hữu cơ cao, bắt buộc phải có thời gian chuyển đổi từ 2 - 3 năm ngưng dùng hóa chất.

Bên cạnh đó, lực lượng lao động trẻ không mặn mà với nông nghiệp, dẫn đến nông dân chủ yếu là người lớn tuổi. Họ gặp khó khăn lớn khi tiếp cận kỹ thuật mới (như GlobalGAP), cài đặt phần mềm giám sát trên điện thoại hay xử lý hóa đơn, chứng từ đầu vào - đầu ra do các hợp tác xã nhỏ không có quỹ thuê kế toán.

Giám đốc Công ty TNHH Techpal Sóc Trăng cũng chia sẻ, để tối ưu hóa chi phí đầu ra và áp dụng tự động hóa đồng bộ, vùng trồng yêu cầu phải đạt trên 1.000 ha. Thế nhưng các hợp tác xã hiện nay đa số có quy mô nhỏ lẻ, chỉ khoảng 50 - 100 ha, ruộng đất nằm phân tán nên không thể đầu tư tự động hóa toàn diện. Ngoài ra, ban quản lý hợp tác xã chủ yếu là người lớn tuổi, dù có uy tín nhưng năng lực quản lý chưa sâu sát, khó điều phối sự đồng lòng của tất cả thành viên. Trong quy trình chất lượng cao, việc kiểm tra phải lấy mẫu gộp khi thu hoạch, chỉ cần một hộ không đạt chuẩn, toàn bộ vùng trồng sẽ bị loại.

Kiến tạo bệ đỡ bền vững từ cơ chế liên kết chuỗi giá trị

Chú thích ảnh
Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Lê Công Lý thông tin về định hướng chuyển đổi nông nghiệp xanh của địa phương.

Theo báo cáo kiểm kê khí nhà kính mới nhất của Việt Nam, phát thải trong nông nghiệp lên tới gần 90 triệu tấn (trong đó canh tác lúa chiếm khoảng 45 triệu tấn, chăn nuôi chiếm 20 triệu tấn), trong khi lượng hấp thụ chỉ khoảng gần 40 triệu tấn. Việc canh tác lúa truyền thống tạo ra điều kiện yếm khí, phát thải lượng lớn khí metan.

Để giải quyết bài toán này, Trưởng phòng Kinh tế trung hòa carbon, Cục Biến đổi khí hậu Lý Việt Hùng cho biết, cơ quan chức năng đã đúc kết ra 4 trụ cột công nghệ chuyển đổi xanh gồm: công nghệ số và quan trắc thông minh; công nghệ sinh học và giống; quản lý nước và năng lượng tái tạo; nông nghiệp tuần hoàn. Các trụ cột này sẽ góp phần giảm thiểu việc dư thừa phân bón hóa học; giảm tỷ trọng phát thải khí nhà kính.

Thực tế tại Đồng bằng sông Cửu Long đã xuất hiện những điểm sáng công nghệ ấn tượng đi từ chiến lược của doanh nghiệp. Điển hình là Công ty Cổ phần Thành Thành Công – Biên Hòa (AgriS). Mới tham gia chuỗi ngành hàng lúa gạo khoảng một năm trở lại đây nhưng tính đến tháng 5/2026, AgriS đã xuất khẩu được khoảng 180.000 tấn gạo giảm phát thải, hướng tới mục tiêu 280.000 tấn vào cuối năm nay và 580.000 tấn vào năm 2030.

Ông Trần Văn Việt, thành viên Hội đồng quản trị AgriS nêu rõ, tại vùng thí điểm trồng lúa giảm phát thải ở Thạnh Hóa (Tây Ninh), dựa trên quy trình chuẩn của Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), AgriS đã đưa vào cải tiến công nghệ đột phá bằng ứng dụng công nghệ bọc phân bón bằng nano chitosan giúp phân bón tan chậm, giảm thất thoát do rửa trôi, từ đó cắt giảm tới 30% lượng phân bón hóa học sử dụng so với thông thường.

Đồng thời thay vì phun thuốc trừ sâu, công ty thả ong mắt đỏ định kỳ từ sớm với mật độ khoảng 20 túi giấy chứa kén ong/ha. Ong mắt đỏ sẽ ký sinh và tiêu diệt trứng của các loài sâu hại thuộc bộ cánh vảy. Biện pháp sinh học này giúp bảo vệ các loài thiên địch bản địa, tạo hệ sinh thái cân bằng khi thực tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long có tới 154 loài có lợi và vô hại và chỉ có 11 loài gây hại.

“Kết quả thu được rất ngoạn mục, toàn bộ vùng thí điểm hoàn toàn không phải sử dụng thuốc trừ sâu hóa học, giúp bà con nông dân rất an tâm. Dù năng suất vụ đầu chưa đạt kỳ vọng và cần tối ưu hóa thêm, mô hình này đã chứng minh tính đúng đắn của việc ứng dụng công nghệ xanh giảm phát thải”, ông Việt chia sẻ.

Trong khi đó, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Techpal Sóc Trăng Trần Hồ Văn Khoa, cho rằng, để xây dựng liên kết trong chuỗi giá trị xanh đòi hỏi mỗi mắt xích tập trung vào thế mạnh cốt lõi của mình. Mạng lưới chuỗi giá trị xanh này cần được vận hành nhịp nhàng với sự phân vai cụ thể.

Theo đó, trung tâm giống đảm nhiệm cung ứng nguồn giống chất lượng; hợp tác xã và chính quyền địa phương tập trung đào tạo nông dân và quản lý, hỗ trợ vùng trồng; doanh nghiệp có hạ tầng chịu trách nhiệm về hệ thống nhà máy sấy, xay xát và chế biến sâu; hệ thống phân phối đồng hành tiêu thụ và ưu tiên các sản phẩm xanh, sạch.

"Mô hình liên kết này giúp giảm áp lực vốn cho một doanh nghiệp duy nhất, đồng thời phát huy tối đa nguồn lực xã hội. Mục tiêu không chỉ dừng lại ở một chuỗi đơn lẻ mà là hình thành mạng lưới nhiều chuỗi giá trị xanh đan xen để đẩy nhanh tốc độ phát triển", ông Khoa nhận định.

Ở góc độ chuyên gia, Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp đúc kết rằng, ba trụ cột quyết định thành công cho chuyển đổi xanh nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long là ứng dụng công nghệ phù hợp, bám sát tín hiệu thị trường và thực hiện cơ chế đồng đầu tư - đồng chia sẻ lợi ích.

Theo Tiến sĩ Hiệp, công nghệ là chìa khóa tạo lợi thế cạnh tranh nhưng phát triển công nghệ mà tách rời thị trường là một sai lầm. Chính thị trường và sức cầu sẽ tạo ra động lực sản xuất, đồng thời định hướng cho sự phát triển bền vững. Các nghiên cứu công nghệ của các viện, trường hiện nay cần phải gắn liền với nhu cầu thực tiễn của thị trường, tránh lặp lại câu chuyện ách tắc của nông sản (như quả sầu riêng thời gian qua) khi công nghệ sản xuất chưa đáp ứng kịp các tiêu chuẩn và rào cản từ phía thị trường.

Ngoài ra, giải pháp quan trọng nhất là phải xây dựng lại cơ chế chia sẻ lợi ích. Các bên liên quan bao gồm nhà đầu tư, doanh nghiệp, nông dân, hợp tác xã và người tiêu dùng phải cùng nhau đầu tư và cùng nhau chia sẻ thành quả. Mối quan hệ này không nên dừng lại ở mức đối tác "thuận mua vừa bán" đơn thuần. Trong bối cảnh hiện nay, phương châm "mua chung, bán chung" trước đây cần được nâng tầm thành mô hình "cùng đầu tư, cùng hưởng lợi" để tạo ra bệ đỡ bền vững cho nền nông nghiệp xanh.

Bài, ảnh: Thu Hiền (TTXVN)