Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; mở rộng và nâng cao hiệu quả các mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng là giải pháp căn cơ, bền vững được thành phố Đà Nẵng xác định là một hướng đi quan trọng. Thành phố cũng đang đẩy mạnh đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số vào công tác quản lý, bảo vệ rừng xem đây là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn mới.
Các thành viên bảo vệ rừng Tây Giang sử dụng ứng dụng trên điện thoại thông minh để tuần tra rừng. Ảnh: Đỗ Trưởng/TTXVN
Gắn kết lợi ích và trách nhiệm
Khác với những năm trước, khi hành trang đi rừng chỉ có con dao rựa, gùi đeo trên lưng đựng gạo, muối, giờ đây thứ không thể thiếu của các tổ tuần tra rừng cộng đồng ở thành phố Đà Nẵng là những chiếc điện thoại thông minh được cài đặt sẵn phần mềm chuyên dụng. Thôn Agrồng, xã Tây Giang có 89 hộ dân, nhiều năm qua đã nhận giao khoán bảo vệ 510 ha rừng tự nhiên. Hàng tháng, các hộ dân đều cắt cử luân phiên thành viên tham gia tổ tuần tra bảo vệ rừng đi theo các tuyến hướng khác nhau. Vào thời điểm mùa phát nương, đốt rẫy tần suất tuần tra cao hơn để ngăn chặn việc chặt phá lấn chiếm rừng tự nhiên, đồng thời ngăn chặn tình trạng phát lửa gây cháy rừng.
Anh Blup Azeeng, thôn Agrồng, xã Tây Giang chia sẻ, với sự hướng dẫn của cán bộ kiểm lâm địa bàn, thanh niên trong thôn đều thuần thục với các thao tác sử dụng ứng dụng phần mềm trên điện thoại thông minh khi đi tuần tra, đây là cơ sở để thôn được hưởng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Mọi diễn biến ở rừng đều được cập nhật bằng hình ảnh để gửi lên hệ thống báo cáo cho Hạt Kiểm lâm liên xã sau mỗi đợt tuần tra.
Ông Tăng Tấn Lộc, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm liên xã khu vực 1, thành phố Đà Nẵng cho biết: trên địa bàn hạt hiện có 6 cộng đồng dân cư đang được giao quản lý hơn 1.000 ha rừng tự nhiên. Điểm mới đáng ghi nhận là thay vì quản lý theo cách truyền thống, các cộng đồng này đã chủ động áp dụng thiết bị và công nghệ số vào công tác tuần tra.
Việc số hóa giúp người dân dễ dàng thu thập, tổng hợp các dữ liệu hiện trường và báo cáo chính xác diễn biến rừng trong khu vực được giao quản lý. Hạt Kiểm lâm liên xã khu vực 1 luôn duy trì sự phối hợp chặt chẽ, đồng hành cùng bà con trong từng đợt tuần tra và thực hiện các nghiệp vụ quản lý chuyên môn. Qua theo dõi, đơn vị đánh giá công tác quản lý, bảo vệ rừng của các nhóm cộng đồng thôn hiện đang vận hành hiệu quả, có trách nhiệm và tính tính kỷ luật cao.
Vườn Quốc gia Sông Thanh nằm trên địa phận 7 xã vùng cao, biên giới gồm Bến Giằng, Nam Giang, La Dêê, Đắc Pring, Phước Năng, Phước Chánh, Khâm Đức của thành phố Đà Nẵng. Để bảo vệ nghiêm ngặt, hạn chế thấp nhất sự tác động của người dân sinh sống ở vùng đệm đối với sự đa dạng sinh học ở đây, Ban quản lý Vườn Quốc gia Sông Thanh đang triển khai nhiều giải pháp; trong đó có việc gắn kết lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng trong công tác bảo vệ rừng.
Vườn Quốc gia Sông Thanh đang duy trì lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách với hơn 200 thành viên, trong đó phần lớn là thanh niên con em người đồng bào địa phương. Đây chính là lực lượng có sức trẻ, am hiểu địa bàn, tiên phong tại các thôn bản cam kết không tác động tiêu cực vào rừng, đóng vai trò là những tuyên truyền viên tích cực bảo vệ rừng ngay tại cơ sở, giúp thay đổi nhận thức từ bên trong cộng đồng.
Già làng Bling Dé ở thôn A Liêng, xã Bến Giằng cũng có một người con trai tham gia lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách ở Vườn Quốc gia Sông Thanh chia sẻ, sự gắn kết giữa Vườn Quốc gia Sông Thanh với cộng đồng thôn rất tốt để cùng nhau giữ lấy rừng, không chỉ cho thế hệ hôm nay mà cả mai sau luôn thấy được màu xanh ngút ngàn của những cánh rừng tự nhiên trên dãy Trường Sơn hùng vĩ.
Trong khu đất vườn của già làng Bling Dé hiện đang có hơn 20 cây gỗ dổi xanh tốt cao vút đầu người được trồng cách đây hơn 3 năm. Đây là những cây giống được Vườn Quốc gia Sông Thanh cấp cho người dân sinh sống ở vùng đệm quanh vườn nhằm tạo nguồn gỗ tại chỗ lâu dài phục vụ nhu cầu của người dân, để không tác động vào rừng.
“Cây dổi trồng khoảng 7 năm cho thu hoạch hạt làm gia vị, 15 năm sẽ bắt đầu cho khai thác gỗ nên người dân địa phương nhận cây giống về trồng rất nhiều trong vườn nhà và trên nương rẫy. Đây cũng là nguồn gỗ quý như “của để dành” cho con cháu sau này khai thác khi có nhu cầu làm nhà ở hoặc bán ra thị trường”, già làng Bling Dé tâm đắc chia sẻ.
Thành phố Đà Nẵng hiện có nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số là người Cơ Tu, Xơ Đăng, Giẻ Triêng… đã trực tiếp tham gia quản lý, bảo vệ hàng chục nghìn hecta rừng tự nhiên thông qua các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và chương trình giao đất, giao rừng. Đây là một chính sách sát với thực tế và mang lại nhiều hiệu quả kép, tạo thành vành đai bảo vệ rừng vững chắc bên cạnh các lực lượng chuyên trách.
Ông Võ Hùng Nhân, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Đà Nẵng cho biết, thực hiện mô hình quản lý rừng mới, Ban đang quản lý 401.054 ha diện tích rừng; trong đó, diện tích chi trả dịch vụ môi trường rừng là 231.646 ha (gồm giao cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng là 183.449 ha, giao khoán cho cộng đồng là 48.197 ha). Định hướng trong thời gian đến, đơn vị vẫn tiếp tục triển khai cả hai hình thức bảo vệ rừng đối với diện tích chi trả dịch vụ môi trường rừng như đã thực hiện trong thời gian qua, qua đó gắn kết chặt chẽ cộng đồng trong thực hiện nhiệm vụ giữ rừng.
Hướng đến quản lý rừng thông minh
Sử dụng phần mềm chuyên dụng trên điện thoại thông minh trong tuần tra rừng ở xã biên giới Tây Giang, TP Đà Nẵng. Ảnh: Đỗ Trưởng/TTXVN
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã tạo ra luồng sinh khí mới cho nhiều lĩnh vực; trong đó, có lâm nghiệp. Ông Hà Phước Phú, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng cho biết: Đơn vị đã tập trung xây dựng, cập nhật và vận hành cơ sở dữ liệu rừng trên nền tảng số, bảo đảm đồng bộ, liên thông với cơ sở dữ liệu lâm nghiệp quốc gia thông qua phần mềm FRMS và hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, nhằm quản lý thống nhất thông tin về diện tích, trạng thái rừng, phân loại rừng và chủ rừng, phục vụ hiệu quả công tác theo dõi diễn biến rừng, quy hoạch và tham mưu chính sách.
Bên cạnh đó, Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng đã ứng dụng công nghệ viễn thám, ảnh vệ tinh, hệ thống thông tin địa lý để giám sát diễn biến rừng; phát hiện sớm các điểm có nguy cơ phá rừng, lấn chiếm đất rừng thông qua hệ thống quản lý, giám sát rừng thành phố Đà Nẵng (FMS). Thông tin cảnh báo được truyền tải nhanh đến kiểm lâm địa bàn và chính quyền cơ sở, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đây là nội dung cụ thể hóa các chỉ đạo của Trung ương và đề án chuyển đổi số, xây dựng đô thị thông minh của thành phố Đà Nẵng trong lĩnh vực lâm nghiệp.
Ông Hôih Trân, một thành viên của lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng Vườn Quốc gia Sông Thanh chia sẻ, nhờ tham gia các lớp tập huấn bài bản, đến nay anh em trong tổ tuần tra đều làm chủ được các thiết bị công nghệ với mức độ thành thạo. Việc ứng dụng các thiết bị này ngay tại hiện trường đã giúp công tác giám sát rừng trở nên chính xác và thuận tiện hơn rất nhiều so với trước đây.
Không chỉ dừng lại việc ứng dụng hình ảnh viễn thám, ngành lâm nghiệp thành phố Đà Nẵng đang hướng đến thử nghiệm việc sử thiết bị bay không người lái (Drone) vào quá trình quản lý, bảo vệ rừng. Việc các thiết bị Drone thông minh sẽ giúp soi chiếu, quét qua các tầng tán rừng dày nơi con người khó lòng đặt chân tới, giúp phát hiện sớm các biến động rừng, hoặc những lán trại dựng trái phép ở trong rừng sâu.
Vườn Quốc gia Sông Thanh là một trong những đơn vị đang được thành phố Đà Nẵng lựa chọn để thí điểm thực hiện đề án bảo vệ rừng thông minh. Cụ thể, đơn vị đề xuất triển khai hệ thống camera AI giám sát chuyên dụng và đẩy mạnh sử dụng thiết bị bay không người lái để triển khai nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát rừng ở các khu vực núi cao, địa hình hiểm trở, nơi mà việc tuần tra đi bộ khó có thể thực hiện được.
Theo ông Tào Quý Tâm, Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Sông Thanh, thực tế, đơn vị đã đưa thiết bị bay không người lái vào thử nghiệm trong giám sát phục hồi rừng và thu được kết quả khả quan. Bước đầu cho thấy, dữ liệu hình ảnh từ trên cao có độ phân giải lớn, bao quát và trực quan, giúp đội ngũ quản lý có cái nhìn chính xác về hiện trạng tài nguyên rừng. Đây chính là tiền đề quan trọng để Vườn Quốc gia Sông Thanh tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao năng lực phản ứng nhanh trước các tình huống xâm hại rừng hoặc cháy rừng.
Bài cuối: Điểm tựa xanh của đô thị sinh thái