05:12 23/05/2026

Các quốc đảo ở Thái Bình Dương lao đao giữa khủng hoảng dầu mỏ toàn cầu

Từ Fiji đến Polynesia, nhiều quốc đảo Thái Bình Dương đang đối mặt sức ép kinh tế ngày càng lớn khi giá dầu leo thang do xung đột Mỹ - Israel với Iran, trong bối cảnh khu vực này phụ thuộc nặng nề vào nhiên liệu nhập khẩu.

Chú thích ảnh
Hình minh hoạ hòn đảo. Ảnh: TTXVN

Khi người đàn ông 53 tuổi Agbar Mohammad lái xe vào một trạm xăng ở Fiji hồi tháng 5, ông đã chuẩn bị tinh thần cho cảnh xếp hàng dài như thường lệ. Thế nhưng bãi đổ xăng hôm đó gần như trống trơn.

Nguyên nhân nhanh chóng lộ rõ khi ông bắt đầu bơm nhiên liệu. Giá tiền trên đồng hồ tăng nhanh hơn nhiều so với kim báo xăng trên xe. Nếu như trước đây chỉ cần khoảng 40 USD để đổ nhiên liệu, thì lần này 100 USD cũng chưa đủ lấp đầy một nửa bình xăng 60 lít.

Cuộc khủng hoảng nhiên liệu mới đang khiến các quốc đảo vốn đã mong manh trước biến đổi khí hậu tiếp tục chịu thêm áp lực. Trong nhiều năm qua, khu vực Thái Bình Dương luôn nằm ở tuyến đầu của khủng hoảng khí hậu với mực nước biển dâng cao và thiên tai ngày càng khốc liệt. Giờ đây, sự phụ thuộc lớn vào dầu mỏ nhập khẩu lại trở thành một điểm yếu chí mạng khác.

Giá nhiên liệu leo thang kéo theo lạm phát

Theo tờ The Guardian, việc giá dầu tăng mạnh được dự báo sẽ làm chậm tăng trưởng kinh tế và đẩy lạm phát tại nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ Thái Bình Dương lên cao hơn nữa. Tác động đã bắt đầu xuất hiện trong đời sống thường ngày, từ giá sắn, chi phí đưa đón học sinh cho tới lợi nhuận của các doanh nghiệp địa phương.

Tiến sĩ Rubayat Chowdhury thuộc Đại học Quốc gia Australia cho biết phần lớn các đảo quốc Thái Bình Dương phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu thực phẩm và nhu yếu phẩm cơ bản. Trong khi đó, nền kinh tế của khu vực lại dựa nhiều vào du lịch, kiều hối và viện trợ nước ngoài.

“Thái Bình Dương sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề”, ông Chowdhury nhận định, cho rằng nguyên nhân xuất phát từ vị trí xa xôi và quy mô dân số nhỏ của các quốc đảo này.

Năm 2023, dầu mỏ chiếm hơn 80% tổng nguồn cung năng lượng của khu vực, trong đó hơn một nửa được dùng cho giao thông và hơn một phần ba phục vụ sản xuất điện.

Ít nhất 8 quốc gia Thái Bình Dương trong năm 2024 vẫn sản xuất quá nửa lượng điện từ các sản phẩm dầu mỏ. Tại quần đảo Solomon, con số này vượt 90%, trong khi Tonga và Nauru đều trên 80%.

Trong khi đó, Australia và New Zealand chỉ sử dụng dầu cho lần lượt 2,3% và 1,5% sản lượng điện, chủ yếu phục vụ các nguồn phát điện tạm thời hoặc ở khu vực xa xôi.

Nhiều quốc đảo Thái Bình Dương đã đặt mục tiêu chuyển sang sử dụng hoàn toàn năng lượng tái tạo vào năm 2030. Một số nơi như Tokelau đã đạt được mục tiêu này, nhưng phần lớn vẫn còn ở rất xa đích.

Nguy cơ thiếu hụt nguồn cung dầu

Không chỉ phụ thuộc vào dầu nhập khẩu, nhiều quốc đảo còn lệ thuộc vào thực phẩm và hàng hóa thiết yếu từ nước ngoài. Điều này khiến chi phí vận tải tăng cao nhanh chóng lan sang mọi mặt đời sống.

Dữ liệu của Liên hợp quốc cho thấy trong giai đoạn 2021 - 2023, thực phẩm chiếm hơn 20% tổng nhập khẩu ròng của Samoa và Tonga, trong khi tại Kiribati tỷ lệ này vượt 29%.

Trước nguy cơ khủng hoảng nguồn cung, nhiều chính phủ trong khu vực đã phải hành động sớm. Quốc hội Fiji đã thông qua quyết định giảm 20% lương nghị sĩ nhằm giảm áp lực ngân sách do cú sốc giá nhiên liệu toàn cầu. Một số nước khác cũng liên tục tăng giá xăng dầu trong nước đồng thời tung ra các gói hỗ trợ cho doanh nghiệp và người dân.

Australia mới đây cam kết hỗ trợ Fiji 30 triệu USD nhằm tăng cường an ninh năng lượng, bao gồm xây dựng trung tâm cung ứng và lưu trữ nhiên liệu trong khu vực. Thủ tướng Fiji Sitiveni Rabuka cho biết khoản hỗ trợ sẽ giúp nước này giảm bớt áp lực ngân sách khi người dân chuẩn bị đối mặt thêm một đợt tăng giá nhiên liệu mới trong tháng này.

Phân tích dòng chảy thương mại toàn cầu năm 2024 cho thấy phần lớn nhiên liệu của các quốc đảo Thái Bình Dương đến từ một số ít nhà cung cấp như Singapore, Malaysia, Hàn Quốc và Trung Quốc. Một số quốc gia phụ thuộc tới 80 - 90% nguồn dầu nhập khẩu từ duy nhất một đối tác.

Sự tập trung nguồn cung này khiến khu vực đặc biệt dễ tổn thương nếu các nước xuất khẩu ưu tiên nhu cầu nội địa của họ. Australia cũng đã được cảnh báo rằng Malaysia hoặc Hàn Quốc có thể buộc phải hạn chế xuất khẩu nếu khủng hoảng kéo dài.

Theo ông Chowdhury, Australia vẫn có lợi thế lớn hơn nhờ sức mua mạnh và vị thế là một trong những quốc gia xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng hàng đầu thế giới.

“Các quốc gia lớn như Australia dễ dàng hơn trong việc đàm phán để đảm bảo nguồn cung dầu. Nhưng điều đó không hề dễ với Đảo Solomon hay Liên bang Micronesia”, ông nói.

Cuộc sống thay đổi vì giá xăng

Tại thủ đô Suva của Fiji, tài xế Agbar Mohammad cho biết khủng hoảng nhiên liệu khiến ông phải làm việc nhiều giờ hơn chỉ để hòa vốn. Các hãng xe buýt chịu áp lực lợi nhuận ngày càng lớn, còn nông dân từ các tỉnh Tailevu, Naitasiri hay Ra phải trả thêm nhiều chi phí để đưa nông sản vào thành phố.

Với tài xế Gerald Elaisa, mỗi chuyến đi giờ đều cần được tính toán kỹ.

“Chúng tôi chỉ đổ xăng cho những chuyến thực sự cần thiết như đi học, đi làm hay về nhà. Bọn trẻ giờ đi xe buýt hoặc đi bộ. Gia đình phải cắt giảm mọi khoản chi không cần thiết”, ông nói.

Đối với nhiều gia đình Fiji, nhiên liệu giờ đây không chỉ còn là câu chuyện đổ đầy bình xăng, mà đang định hình lại toàn bộ cách họ sinh sống mỗi ngày.

Bảo Hân/Báo Tin tức và Dân tộc