Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo ra một bước chuyển biến rất rõ nét về mặt nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị đối với khu vực kinh tế tư nhân.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc (TTXVN) đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Huân, Đại biểu Quốc hội khóa XV (Đoàn TP Hồ Chí Minh) về những đột phá quan trọng sau gần 1 năm triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Ông Nguyễn Quang Huân - Đại biểu Quốc hội khóa XV (Đoàn TP Hồ Chí Minh) trả lời phỏng vấn phóng viên báo Tin tức và Dân tộc (TTXVN).
Thưa ông, thời gian qua Đảng và Nhà nước đã có bước đột phá về tư duy, nhận thức đánh giá đúng về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế. Ông có ghi nhận gì về những kết quả sau gần một năm khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân?
Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã tạo ra một bước chuyển biến rất rõ nét về mặt nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị đối với khu vực kinh tế tư nhân. Ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết, Quốc hội đã nhanh chóng vào cuộc, kịp thời thể chế hóa bằng Nghị quyết 198/2025/QH15 với tinh thần hết sức quyết liệt, khẩn trương và đồng bộ.
Tiếp đó, Chính phủ cũng đã chủ động xây dựng và ban hành các nghị định, chương trình hành động nhằm cụ thể hóa, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp như Nghị quyết 138/NQ-CP và 139/NQ-CP và mới đây là Nghị định 20/2026/NĐ-CP để cụ thể hóa chính sách phát triển kinh tế tư nhân. Có thể thấy, sự vào cuộc đồng bộ từ Bộ Chính trị đến Quốc hội và Chính phủ đã góp phần cải thiện đáng kể môi trường đầu tư, kinh doanh, củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp khu vực tư.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn triển khai cũng cho thấy vẫn còn không ít vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ.
Một trong những vấn đề nổi lên hiện nay là liên quan đến các tiêu chuẩn về ESG (môi trường, xã hội và quản trị). Đây là xu hướng tất yếu trong phát triển bền vững, song hiện nay chưa được thể chế hóa đầy đủ trong hệ thống pháp luật, dẫn đến việc doanh nghiệp gặp khó khăn trong áp dụng, đặc biệt là khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Nghị quyết 198/QH15 cũng xác định hỗ trợ lãi suất 2% cho các doanh nghiệp ESG nhưng tế không thể xác định doanh nghiệp nào đạt tiêu chí ESG vì chưa có tiêu chí ESG nội địa hóa tại Việt Nam.
Ngoài ra, một số doanh nghiệp cũng phản ánh những bất cập phát sinh sau quá trình sáp nhập, tổ chức lại bộ máy ở một số cơ quan quản lý nhà nước. Cụ thể, chức năng, nhiệm vụ của một số đơn vị mới chưa thực sự rõ ràng, gây lúng túng trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.
Thực tế cũng cho thấy, vẫn còn tồn tại không ít thủ tục hành chính gây phiền hà. Dù đã triển khai cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”, nhưng ở một số nơi, cơ chế “xin - cho” vẫn chưa được xóa bỏ triệt để. Có những vấn đề tưởng chừng đã được cải cách, nhưng khi đi vào thực tế vẫn chưa đạt yêu cầu, khiến doanh nghiệp còn nhiều băn khoăn.
Sau khi có Nghị quyết 68-NQ/TW, công tác lãnh đạo, chỉ đạo đã được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm; quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh của người dân bước đầu được bảo đảm đầy đủ nhưng kinh tế tư nhân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn, công nghệ và nhân lực chất lượng cao. Vậy theo ông để tháo gỡ những vướng mắc này, chúng ta cần những giải pháp gì?
Mặc dù môi trường thể chế đã có nhiều cải thiện sau khi triển khai Nghị quyết 68, nhưng khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), vẫn đang đối mặt với những “nút thắt” lớn về nguồn lực phát triển.
Thứ nhất, về tiếp cận vốn, hiện phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp cận tín dụng. Các doanh nghiệp lớn có lợi thế vượt trội về tài sản bảo đảm, năng lực tài chính nên dễ dàng tiếp cận vốn, trong khi SME, đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, lại càng khó khăn hơn.
Do đó, theo tôi, Nhà nước cần có các quỹ hỗ trợ lãi suất mang tính mục tiêu, hướng tới đúng đối tượng là SME. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế để các doanh nghiệp này có thể tiếp cận tốt hơn với các kênh tín dụng ưu đãi, như thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam hoặc các quỹ tín dụng chuyên biệt như quỹ tín dụng xanh, cũng như các nguồn vốn quốc tế ưu đãi.
Một điểm rất quan trọng là cần xác định rõ tiêu chí thụ hưởng, tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ. Đồng thời, cũng cần nghiên cứu điều chỉnh lại tiêu chí xác định SME, bởi nếu chỉ dựa vào doanh thu và số lượng lao động như hiện nay thì có những doanh nghiệp ở Việt Nam được coi là lớn, nhưng xét theo chuẩn quốc tế lại vẫn là nhỏ và vừa, đặc biệt trong các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, cấp thoát nước, xử lý rác thải…
Thứ hai là công nghệ và nguồn nhân lực. Tôi cho rằng cần có các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận và áp dụng các tiêu chuẩn ESG (môi trường, xã hội và quản trị). Muốn làm được điều này thì trước hết phải thể chế hóa, tiêu chuẩn hóa ESG trong hệ thống pháp luật, đồng thời xây dựng các chương trình đào tạo, tư vấn, cũng như các quỹ hỗ trợ theo từng ngành nghề.
Khi doanh nghiệp tiếp cận và áp dụng tốt ESG, họ sẽ buộc phải đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng quản trị và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Ngược lại, nếu không tích hợp các tiêu chuẩn này, doanh nghiệp sẽ rất khó đổi mới công nghệ, khó đáp ứng yêu cầu giảm phát thải, và cũng khó tham gia vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ ba là tiếp cận đất đai và các nguồn lực khác. Hiện nay, hệ thống chính sách, pháp luật về đất đai đã có nhiều quy định hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng vấn đề nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Do đó, cần rà soát lại toàn bộ các văn bản hướng dẫn, đồng thời tiến hành khảo sát thực tiễn một cách cụ thể theo từng loại hình doanh nghiệp (theo quy mô) và từng ngành nghề. Từ đó, có các giải pháp sát thực tiễn hơn, bảo đảm doanh nghiệp thực sự tiếp cận được đất đai một cách minh bạch, thuận lợi.
Để kinh tế tư nhân phát triển mạnh, đi đúng quỹ đạo, theo ông chúng ta cần đưa ra những chính sách ưu đãi, hỗ trợ gì nữa để kinh tế tư nhân thực sự hiệu quả và dễ tiếp cận vốn để giảm chi phí kinh doanh?
Để kinh tế tư nhân phát triển hiệu quả, cần đồng bộ cả về thể chế và nội lực doanh nghiệp.
Trước hết, về thể chế, cần tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, nhất quán tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW; đồng thời rà soát, loại bỏ các quy định còn chồng chéo, đi ngược tinh thần cải cách, nhất là trong tiếp cận nguồn lực và xử lý hồi tố.
Thực tế hiện nay, điển hình như 173 dự án năng lượng tái tạo đang gặp vướng mắc pháp lý, nếu không có cơ chế đặc thù để rà soát, xử lý thì sẽ gây lãng phí rất lớn nguồn lực xã hội và đẩy doanh nghiệp vào rủi ro. Do đó, Quốc hội Việt Nam cần xem xét ban hành cơ chế xử lý đặc biệt đối với các dự án tồn đọng này. Đồng thời, chính sách phải bảo đảm ổn định, minh bạch để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.
Về phía doanh nghiệp, cần chủ động đổi mới tư duy, thúc đẩy áp dụng các tiêu chuẩn ESG nhằm nâng cao quản trị, mở rộng khả năng tiếp cận vốn quốc tế và thị trường.
Cuối cùng, cần xây dựng môi trường kinh doanh công bằng, không định kiến với khu vực tư nhân, bảo đảm cân bằng trong tiếp cận nguồn lực giữa các khu vực kinh tế, qua đó tạo động lực để kinh tế tư nhân phát triển đúng vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế.
Xin trân trọng cảm ơn ông!