Trong cuộc chiến ứng phó với biến đổi khí hậu, rừng ngày càng được nhìn nhận không chỉ là “lá phổi xanh” mà còn là một trong những giải pháp tự nhiên quan trọng để hấp thụ và lưu giữ carbon, góp phần giảm phát thải khí nhà kính.
Với gần 1 triệu ha rừng, trong đó khoảng 3/4 là rừng tự nhiên, Nghệ An đang từng bước biến giá trị của rừng thành nguồn lực phục vụ bảo vệ rừng và phát triển sinh kế. Thông qua Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA), hàng chục nghìn chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư trên địa bàn tỉnh đã được hưởng lợi, tạo thêm động lực để người dân gắn bó với rừng trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp. Đây cũng là hành động phù hợp với tinh thần của Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.
Lực lượng kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An kiểm tra nội dung biển tuyên truyền đặt tại khu vực cửa rừng và phát quang bụi rậm xung quanh. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Giữ rừng trở thành một phần sinh kế
Tại bản Đồng Văn, xã Thông Thụ, nằm trong vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, sự thay đổi trong cách người dân ứng xử với rừng đang diễn ra rõ nét. Nhiều năm trước, rừng là nguồn cung cấp củi, gỗ và lâm sản phục vụ cuộc sống của người dân. Một số hộ từng vào rừng khai thác gỗ để dựng nhà hoặc lấy lâm sản phụ để cải thiện sinh kế.
Tuy nhiên, các chính sách quản lý, bảo vệ rừng được triển khai, tình trạng khai thác rừng tự nhiên từng bước được kiểm soát. Đặc biệt, từ năm 2024, khi người dân bắt đầu được hưởng lợi từ chương trình chi trả giảm phát thải khí nhà kính, giá trị của việc giữ rừng trở nên cụ thể hơn đối với từng hộ gia đình.
Bản Đồng Văn hiện có 149 hộ dân được hỗ trợ khoảng 991 triệu đồng/năm từ nguồn chi trả giảm phát thải, bình quân gần 8 triệu đồng/hộ/năm. Ngoài khoản hỗ trợ cho các hộ tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, cộng đồng bản còn được hỗ trợ 50 triệu đồng/năm để đầu tư các công trình chung. Năm 2024, nguồn kinh phí này được sử dụng làm cổng chào vào bản; năm 2025, bản đầu tư 80 m đường bê tông.
Với những hộ trực tiếp nhận khoán bảo vệ rừng, khoản tiền từ chương trình giảm phát thải trở thành nguồn thu nhập bổ sung, giúp các gia đình có thêm điều kiện cải thiện cuộc sống.
Anh Lang Văn Dũng, một hộ dân được hưởng lợi từ nguồn chi trả ERPA cho biết, gia đình có 8 ha rừng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ năm 2024, gia đình được chi trả nguồn giảm phát thải khí nhà kính với mức 8 triệu đồng/năm. Nguồn tiền này giúp gia đình có thêm điều kiện mua sắm các vật dụng cần thiết, đồng thời là động lực để tiếp tục bảo vệ diện tích rừng được giao.
Bà Nguyễn Thị Hoài, Chủ tịch UBND xã Thông Thụ cho biết, từ khi có nguồn chi trả giảm phát thải, người dân xã Thông Thụ nói chung và bản Đồng Văn nói riêng không còn lén lút vào rừng chặt tỉa gỗ để làm nhà. Các hộ còn vận động nhau chuyển từ nhà sàn sử dụng nhiều gỗ sang xây nhà kiên cố, vừa phù hợp với điều kiện sinh hoạt, vừa góp phần hạn chế tác động đến rừng tự nhiên.
Từ bản Đồng Văn, câu chuyện giữ rừng gắn với sinh kế cũng đang được nhân rộng tại nhiều cộng đồng dân cư khác ở Nghệ An. Tại bản Tùng Hương, xã Tam Quang, khoảng 250 hộ dân đều được nhận hơn 11 triệu đồng/hộ từ nguồn chi trả giảm phát thải khí nhà kính theo Thỏa thuận ERPA.
Trưởng bản Tùng Hương La Văn Hoàng cho biết, người dân nhận khoán bảo vệ rừng theo cộng đồng nên nguồn tiền được chia cho các hộ. Phần lớn gia đình sử dụng khoản kinh phí này để mua cây giống, con giống hoặc đầu tư phục vụ sản xuất. Qua đó góp phần nâng cao đời sống cho đồng bào nơi đây.
Việc người dân trực tiếp nhận được lợi ích từ công sức giữ rừng đang tạo ra sự thay đổi quan trọng trong nhận thức. Rừng không còn đơn thuần được nhìn nhận là nơi cung cấp gỗ, củi hay lâm sản, mà trở thành tài sản cần được bảo vệ để duy trì nguồn sinh kế lâu dài. Đây cũng là cách biến những lợi ích từ bảo vệ môi trường, giảm phát thải thành động lực cụ thể ở cơ sở.
Hàng trăm tỷ đồng tiếp sức cho những cánh rừng
Không chỉ tạo nguồn thu cho các hộ gia đình, nguồn kinh phí ERPA còn được sử dụng để đầu tư các công trình chung, góp phần cải thiện điều kiện sống tại nhiều bản vùng cao. Qua đó, lợi ích từ việc bảo vệ rừng được thể hiện bằng những công trình cụ thể, gần gũi với đời sống người dân.
Tại địa bàn các xã thuộc khu vực Vườn quốc gia Pù Mát như Anh Sơn, Môn Sơn, Con Cuông, Châu Khê, Tam Quang và Tam Thái hiện trên 30 cộng đồng được phê duyệt hưởng lợi. Trong đó, xã Môn Sơn có số cộng đồng được hưởng lợi nhiều nhất với 16 thôn, bản. Mỗi bản được nhận bình quân khoảng 50 triệu đồng/năm.
Thay vì chia trực tiếp cho từng hộ, nguồn kinh phí được cộng đồng thống nhất sử dụng cho những công trình phục vụ đời sống chung như lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng bằng năng lượng mặt trời, mua vật liệu bê tông hóa đường giao thông nội bản hoặc sửa chữa các thiết chế văn hóa.
Tại các bản Búng, Cò Phạt, những công trình từ nguồn hỗ trợ đã góp phần tạo diện mạo mới cho bản làng. Nhiều tuyến đường nội bản được bê tông hóa, hệ thống đèn năng lượng mặt trời được lắp đặt, giúp việc đi lại, sinh hoạt của người dân thuận lợi hơn. Với đồng bào Đan Lai, những công trình thiết thực này không chỉ cải thiện đời sống mà còn góp phần củng cố niềm tin, tạo động lực để người dân tiếp tục gắn bó với rừng.
Lực lượng kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức, kỹ năng cho người dân về công tác bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học và phòng, chống cháy rừng. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Theo ông Dương Ngọc Hùng, Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Nghệ An, việc thực hiện các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng và giảm phát thải khí nhà kính đang tạo thêm nguồn lực cho quản lý, bảo vệ rừng, đồng thời hỗ trợ sinh kế cho người dân miền núi. Khi cộng đồng trực tiếp được hưởng lợi từ rừng, việc bảo vệ rừng sẽ không chỉ là yêu cầu từ phía cơ quan quản lý mà trở thành trách nhiệm và lợi ích thiết thực của chính người dân.
Từ năm 2024 đến tháng 6/2026, tổng kinh phí ERPA được phê duyệt để giải ngân là hơn 393 tỷ đồng; trong đó đã giải ngân trên 319,7 tỷ đồng, đạt trên 81% kế hoạch được duyệt. Nguồn kinh phí này được chi trả cho hơn 34.000 chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn, bản; trong đó phần lớn là người dân vùng cao còn gặp nhiều khó khăn về sinh kế.
Nguồn kinh phí này cũng chi trả cho 26 chủ rừng là tổ chức với tổng số tiền hơn 200 tỷ đồng. Qua đó, góp phần bổ sung nguồn lực cho các chủ rừng là tổ chức thực hiện khoán quản lý, bảo vệ rừng, đồng thời hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng dân cư sống ven rừng và gần rừng.
Thực tế từ Mường Hin, Tùng Hương hay các bản vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát cho thấy, giá trị của rừng không chỉ nằm ở gỗ hay lâm sản. Việc ứng phó với biến đổi khí hậu và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero), khả năng hấp thụ, lưu giữ carbon của rừng ngày càng được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên có giá trị.
Đối với Nghệ An, phát huy giá trị này đồng nghĩa với việc phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế để người dân, cộng đồng và các chủ rừng thực sự trở thành những người hưởng lợi từ quá trình bảo vệ rừng. Khi nguồn thu từ rừng được chuyển hóa thành những khoản hỗ trợ cụ thể cho hộ gia đình, những con đường, hệ thống chiếu sáng và công trình cộng đồng, lợi ích của việc giữ rừng trở nên hữu hình hơn.
Đây cũng được xem là nền tảng quan trọng để Nghệ An bảo vệ hiệu quả diện tích rừng tự nhiên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới; đồng thời cải thiện đời sống người dân vùng cao, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và đóng góp vào hành trình thực hiện cam kết Net Zero của Việt Nam.