07:10 22/07/2026

Bí ẩn lớn của thị trường dầu mỏ trong xung đột giữa Mỹ và Iran

Hai yếu tố chi phối thị trường dầu mỏ toàn cầu là cung và cầu. Tuy nhiên, cuộc xung đột giữa Mỹ và Iran đã làm đảo lộn cả hai yếu tố này, trong đó một yếu tố có thể đã thay đổi theo hướng khó có thể đảo ngược.

Chú thích ảnh
Tàu chở dầu cập cảng New York và New Jersey, Mỹ. Ảnh: THX/TTXVN phát

Theo truyền thông Mỹ ngày 21/7, nguồn cung vẫn trong tình trạng hỗn loạn. Tình trạng dư thừa dầu thô ở mức kỷ lục đã nhanh chóng chuyển thành cú sốc nguồn cung nghiêm trọng nhất từng xảy ra, trước khi một làn sóng dầu mới lại tràn vào thị trường trong tháng 6. Giờ đây, khi xung đột giữa hai bên tiếp tục leo thang, việc tiếp cận nguồn dầu từ vịnh Ba Tư lại bị gián đoạn đáng kể, khiến thị trường một lần nữa rơi vào hỗn loạn.

Tuy nhiên, điều khó lý giải hơn cả lại là nhu cầu về dầu.

Sau 5 tháng xung đột, thế giới dường như đã thích nghi với cú sốc nguồn cung và học cách vận hành nền kinh tế mà không cần tiêu thụ nhiều dầu như trước. Hàng trăm triệu thùng dầu cũng có thể đi qua eo biển Hormuz trong tháng 6, nhưng lại không tìm được nhiều người mua. Một số lô dầu thô Trung Đông buộc phải giảm giá rất mạnh mới có thể bán được.

Có nhiều nguyên nhân khiến thế giới ngày càng thờ ơ với dầu mỏ và giải pháp cũng phức tạp hơn nhiều.

Nhu cầu lao dốc

Trong 3 tuần ngắn ngủi khi eo biển Hormuz được mở lại phần lớn hoạt động, diễn biến bất ngờ đã xảy ra: hơn 200 triệu thùng dầu từng bị mắc kẹt trong vịnh Ba Tư nhanh chóng được đưa ra thị trường, nhưng người mua gần như không mấy quan tâm.

Theo ông Homayoun Falakshahi, Giám đốc phân tích dầu thô tại Kpler (đơn vị theo dõi lưu lượng hàng hải và dòng chảy dầu mỏ), tập đoàn QatarEnergy của Qatar và ADNOC của Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) buộc phải giảm giá dầu từ 6 đến 9 USD/thùng mới có thể bán cho các khách hàng ở Đông Nam Á.

Ông Falakshahi cho biết hiện vẫn còn hơn 18 triệu thùng dầu không phải của Iran đã đi qua eo biển Hormuz nhưng vẫn nằm trên các tàu chở dầu bên ngoài vịnh Ba Tư chờ người mua, cao gấp hơn 2,5 lần so với trước khi xung đột bùng phát.

Chú thích ảnh
Tàu chở dầu di chuyển trên biển Đỏ, gần lối vào kênh đào Suez, Ai Cập. Ảnh: THX/TTXVN phát

Iran còn gặp nhiều khó khăn hơn các nước láng giềng khi bán dầu. Sau khi đạt được bản ghi nhớ với Mỹ, Iran đã đưa khoảng 70 triệu thùng dầu qua eo biển Hormuz. Dù Mỹ tạm thời nới lỏng một số lệnh trừng phạt, nhưng Trung Quốc vẫn là khách hàng duy nhất sẵn sàng mua.

Vì vậy, Iran chuyển toàn bộ lượng dầu này sang Trung Quốc, khách hàng lớn nhất của nước này cả trước và trong thời gian xảy ra xung đột. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng không mấy quan tâm. Theo Kpler, trong tháng 6, Trung Quốc đã giảm mạnh lượng dầu nhập khẩu từ Iran, từ khoảng 1,5 triệu thùng/ngày xuống còn 630.000 thùng/ngày.

Theo ngân hàng JPMorgan, tổng nhu cầu dầu toàn cầu hiện vẫn thấp hơn khoảng 4 triệu thùng/ngày so với thời điểm bắt đầu xảy ra xung đột.

Một nguyên nhân quan trọng khiến nhu cầu sụt giảm là dầu không còn nhiều nơi để tiêu thụ hiệu quả. Các nhà máy lọc dầu đã hoạt động hết công suất, đặc biệt sau khi Iran tấn công 30 nhà máy lọc dầu tại Trung Đông trong suốt thời gian diễn ra xung đột.

Bài toán liên quan Trung Quốc

Phần lớn lời giải thích về tình trạng nhu cầu dầu trì trệ đều hướng đến Trung Quốc. Tình trạng sụt giảm nhu cầu dầu của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đã tạo áp lực đáng kể lên giá dầu toàn cầu.

Đó cũng là lý do khiến giá dầu thô chưa bao giờ quay lại mức của năm 2022 hay mức kỷ lục năm 2008, dù cú sốc dầu mỏ lần này nghiêm trọng hơn nhiều lần so với các cuộc khủng hoảng trước.

Trung Quốc gần như phụ thuộc hoàn toàn vào dầu nhập khẩu. Tuy nhiên, trong thời gian xảy ra xung đột, lượng dầu thô nhập khẩu của nước này đã giảm mạnh, từ hơn 12 triệu thùng/ngày xuống dưới 8 triệu thùng/ngày.

Một phần suy giảm nhu cầu dầu của Trung Quốc có thể mang tính lâu dài. Trong thời gian xảy ra xung đột, doanh số xe điện tại nước này tăng bùng nổ, kéo theo số lượng xe điện lưu thông tăng thêm khoảng 1/3. Đồng thời, Trung Quốc cũng áp đặt các hạn chế nghiêm ngặt đối với các nhà máy lọc dầu, giới hạn sản lượng xăng, dầu diesel và nhiên liệu máy bay.

Dù vậy, câu chuyện nhu cầu dầu của Trung Quốc chủ yếu cho thấy nước này có sự chuẩn bị kỹ lưỡng hơn là do nền kinh tế này quay lưng với dầu mỏ.

Trước khi xung đột bùng phát, Trung Quốc đã tích trữ lượng lớn dầu và từ đó đến nay chủ yếu sử dụng nguồn dự trữ này thay vì tiếp tục nhập khẩu. Theo bà Yulia Zhestkova Grigsby, chiến lược gia cấp cao về hàng hóa tại Goldman Sachs, nước này đang rút kho dự trữ với tốc độ khoảng 2 triệu thùng/ngày nhưng vẫn còn khoảng 1,9 tỷ thùng dầu, tương đương 117 ngày tiêu thụ.

Vì vậy, ước tính mức suy giảm nhu cầu dầu thực sự của Trung Quốc trong thời gian xung đột chỉ khoảng 1,2 triệu thùng/ngày, thay vì khoảng 5 triệu thùng/ngày mà nước này đã cắt giảm nhập khẩu.

Khi nào nhu cầu sẽ phục hồi?

Sớm hay muộn, Trung Quốc cũng sẽ phải bổ sung lượng dầu dự trữ. Khi nước này tăng nhập khẩu trở lại, nhu cầu dầu toàn cầu có thể tăng đáng kể và kéo giá đi lên.

Chú thích ảnh
Bể chứa dầu thô tại Cushing, Oklahoma, Mỹ. Ảnh: AFP/TTXVN

Phần còn lại của thế giới cũng sẽ phải tái tích trữ dầu, đặc biệt là Mỹ. Kho Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược của Mỹ hiện ở mức thấp nhất kể từ khi chính quyền Tổng thống Ronald Reagan bắt đầu xây dựng kho dự trữ này vào năm 1983. Để giảm bớt cú sốc nguồn cung, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đã quyết định giải phóng lượng dầu dự trữ khẩn cấp toàn cầu ở mức kỷ lục 400 triệu thùng, tạo ra khoảng trống nguồn cung đáng kể và sẽ cần được bù đắp trong tương lai.

Tuy nhiên, chưa rõ khi nào nhu cầu sẽ phục hồi và các tổ chức cũng đưa ra những dự báo trái ngược nhau.

Goldman Sachs cho rằng quá trình này có thể diễn ra sớm do Trung Quốc cam kết duy trì lượng dự trữ lớn. Trong khi đó, IEA dự báo nhu cầu dầu sẽ giảm trong năm 2026. OPEC lại cho rằng nhu cầu sẽ tăng, còn JPMorgan dự báo nhu cầu gần như đi ngang. Một số chuyên gia trong ngành thậm chí thừa nhận rất khó dự báo, bởi nhu cầu dầu vốn khó đo lường và dự báo chính xác.

Ông Neil Atkinson, nghiên cứu viên tại Trung tâm Phân tích Năng lượng Quốc gia, cho biết: "Tình hình liên quan đến eo biển Hormuz biến động đến mức dự báo của tôi gần như phải thay đổi mỗi ngày theo diễn biến tin tức".

Người mua cũng rất khó xác định đây có phải thời điểm thích hợp để quay lại thị trường hay không. Lưu lượng vận chuyển dầu qua eo biển Hormuz lại giảm mạnh, trong khi giá dầu tiếp tục tăng do căng thẳng ở Trung Đông ngày càng leo thang. Trong phiên giao dịch ngày 20/7, giá dầu Brent có thời điểm chạm mốc 90 USD/thùng lần đầu tiên sau hơn một tháng.

Việc xung đột liên tục leo thang rồi hạ nhiệt có thể khiến quá trình phục hồi nhu cầu dầu tiếp tục bị trì hoãn.

Các chuyên gia cho rằng để nhu cầu phục hồi, người mua cần thấy Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận thực chất, đủ để tạo niềm tin rằng sự ổn định đó có thể kéo dài.

Vì vậy, ở thời điểm hiện tại, nhiều quốc gia vẫn cảm thấy yên tâm khi tiếp tục sử dụng lượng dầu dự trữ của mình, ít nhất là cho đến khi các kho dự trữ này cạn dần.

Thùy Dương/Báo Tin tức và Dân tộc