08:08 12/08/2026

Bắc Ninh: Tạo lực đẩy chuyển đổi số cho hơn 54.000 doanh nghiệp

Chiếm khoảng 95% tổng số doanh nghiệp, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đóng góp ngày càng lớn vào phát triển kinh tế - xã hội của Bắc Ninh. Trong bối cảnh yêu cầu về năng suất, chất lượng, quản trị và tiêu chuẩn sản phẩm ngày càng cao, chuyển đổi số đang trở thành một trong những giải pháp giúp doanh nghiệp nâng hiệu quả hoạt động, tăng sức cạnh tranh và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Chuyển đổi từ nhu cầu thực tế

Chú thích ảnh
Dây chuyền sản xuất bao bì giấy tại Công ty Cổ phần Sản xuất và Xuất nhập khẩu Bao bì Thăng Long (phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) được vận hành theo mô hình nhà máy thông minh. 

Tại Công ty cổ phần Sản xuất và Xuất nhập khẩu Bao bì Thăng Long, phường Từ Sơn, chuyển đổi số được triển khai từng bước, gắn với yêu cầu nâng cao năng lực quản trị và sản xuất. Công ty hiện có gần 500 lao động; cung cấp bao bì giấy, bao bì nhựa cho hơn 200 khách hàng trong nước và nước ngoài.

Theo ông Bùi Tuấn Ngọc, Trưởng Ban Dự án Nhà máy thông minh, doanh nghiệp triển khai xây dựng hệ thống nhà máy thông minh theo từng giai đoạn. Giai đoạn 1 được thực hiện trong năm 2023, với kinh phí khoảng 1,2 tỷ đồng, tập trung xây dựng nền tảng ban đầu. Giai đoạn 2, trong năm 2024, doanh nghiệp đầu tư gần 3 tỷ đồng nâng cấp hệ thống phần mềm, áp dụng tại phân xưởng bao bì giấy. Đến nay, Công ty cơ bản hoàn thành giai đoạn này, tiếp tục duy trì và hoàn thiện hệ thống.

Quá trình chuyển đổi số giúp doanh nghiệp từng bước thay đổi phương thức quản lý, điều hành sản xuất. Từ ghi chép thủ công, nhập dữ liệu trên Excel với độ trễ nhất định, Thăng Long chuyển sang thu thập dữ liệu sản xuất qua hệ thống Internet vạn vật (IoT) và cập nhật trực tiếp lên phần mềm theo thời gian thực. Sản lượng, tình trạng sản xuất, máy móc, bảo trì, bảo dưỡng được cập nhật trên hệ thống, giúp dữ liệu nhanh, chính xác, minh bạch, qua đó rút ngắn thời gian ra quyết định của lãnh đạo doanh nghiệp.

Cùng với ứng dụng IoT, doanh nghiệp từng bước chuẩn hóa quy trình, dữ liệu và các công đoạn sản xuất; đồng thời đào tạo cán bộ, công nhân viên để thích ứng với phương thức quản lý mới. Trên nền tảng đã xây dựng, Công ty tiếp tục triển khai giai đoạn 3, dự kiến đầu tư khoảng 5 tỷ đồng cho cả phần mềm và phần cứng, mở rộng hệ thống sang nhà máy bao bì nhựa và các xưởng sản xuất tiếp theo.

Nếu Thăng Long bắt đầu từ số hóa dữ liệu, quy trình và quản trị sản xuất, Công ty cổ phần Thời trang Hà Thanh, xã Hoàng Vân, lại tập trung vào tự động hóa các công đoạn sản xuất. Trong 3 năm qua, Công ty đã đầu tư khoảng 18 tỷ đồng cho hệ thống gần 100 loại máy móc; trong đó, có 2 máy cắt tự động và 8 máy trải vải tự động. Một máy cắt lập trình tự động có công suất làm việc tương đương 3-4 lao động thủ công; máy trải vải tự động tương đương 5-7 lao động, có thể thao tác trên nhiều bề mặt chất liệu vải với độ chính xác cao, hạn chế hàng lỗi.

Anh Nguyễn Văn Thao, quản lý bộ phận cắt và hoàn thiện của Công ty, cho biết việc đưa các loại máy vận hành thông qua lập trình trên máy tính giúp doanh nghiệp giảm số lao động trực tiếp tại một số khâu, nâng độ chính xác, hạn chế tình trạng nguyên liệu ùn ứ và đáp ứng nhanh hơn các đơn hàng. Công ty cũng thường xuyên tổ chức tập huấn, đào tạo để kỹ thuật viên, người lao động vận hành máy hiệu quả.

Ông Lê Xuân Tráng, Tổng Giám đốc Công ty, cho rằng công nghệ là yếu tố cốt lõi giúp doanh nghiệp kiểm soát sản phẩm, nhất là khi thường xuyên làm việc với các đối tác lớn nước ngoài; trong đó, có các đối tác châu Âu với yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn sản phẩm. Năm 2026, Công ty đặt mục tiêu tăng doanh thu 7,1%, đạt khoảng 600 tỷ đồng; đồng thời phát động phong trào thi đua nâng cao năng suất, sử dụng hiệu quả máy móc và triển khai thiết kế, xây dựng dây chuyền tại xưởng sản xuất mới.

Từ số hóa dữ liệu, quản trị sản xuất đến tự động hóa công đoạn, điểm xuất phát của mỗi doanh nghiệp khác nhau nhưng đều hướng tới một mục tiêu: giảm thời gian, nâng năng suất, kiểm soát chất lượng và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng. Đây cũng là những yếu tố quyết định khả năng để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp FDI.

Tạo lực đẩy cho khu vực doanh nghiệp

Chú thích ảnh
Dây chuyền sản xuất điện tử tại Công ty SAMK WANG - Khu công nghiệp Quang Châu, tỉnh Bắc Ninh). Ảnh: Việt Hùng/TTXVN

Năm 2025, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp khoảng 30,1% GRDP, trên 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đồng thời tạo nhiều việc làm và đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, xuất nhập khẩu của tỉnh. Với hơn 54.000 doanh nghiệp, khoảng 95% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bắc Ninh đang đứng trước yêu cầu vừa phát triển về số lượng, vừa nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp này.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều trở ngại. Theo Phó Giám đốc Sở Tài chính Bắc Ninh Vũ Văn Cường, khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ của doanh nghiệp còn hạn chế; nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chưa nắm bắt đầy đủ thông tin. Thủ tục, hồ sơ và điều kiện tham gia một số chương trình còn tương đối phức tạp. Bên cạnh đó, thiếu vốn, lãi suất vay cao và việc tiếp cận tín dụng còn phụ thuộc nhiều vào tài sản bảo đảm cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp khi đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Những hạn chế này tác động trực tiếp đến khả năng đầu tư công nghệ. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nguồn lực phải phân bổ cho nhiều nhu cầu, từ duy trì sản xuất, mở rộng thị trường, đầu tư máy móc đến đào tạo lao động. Vì vậy, chuyển đổi số không chỉ là bài toán lựa chọn công nghệ mà còn liên quan đến vốn, nhân lực và tổ chức thực hiện. Nếu thiếu tư vấn, lộ trình phù hợp, doanh nghiệp có thể đầu tư phân tán, thiếu đồng bộ hoặc chưa khai thác hết hiệu quả của các giải pháp số.

Thời gian qua, Bắc Ninh đã triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, tư vấn, đào tạo và sử dụng nền tảng số trong quản trị, sản xuất, kinh doanh; trong đó hỗ trợ chữ ký số cho 1.734 doanh nghiệp nhỏ và vừa với tổng kinh phí 3,86 tỷ đồng. Một số doanh nghiệp cũng từng bước tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp FDI trên địa bàn.

Giai đoạn 2026-2030, Bắc Ninh xác định hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số theo hướng có trọng tâm, phù hợp với mức độ sẵn sàng và nhu cầu thực tế của từng doanh nghiệp, từ đánh giá, tư vấn xây dựng lộ trình đến ứng dụng công nghệ số, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo.

Mục tiêu đến năm 2030, ít nhất 15.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ thông qua các hoạt động đánh giá mức độ sẵn sàng, thử nghiệm và ứng dụng giải pháp chuyển đổi số, tư vấn, đào tạo và nâng cao năng lực số; trong đó ít nhất 8.000 doanh nghiệp được hỗ trợ ứng dụng sản phẩm, giải pháp công nghệ số, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo.

Theo Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bắc Ninh Mai Sơn, tỉnh định hướng hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng lộ trình chuyển đổi số phù hợp với từng ngành, lĩnh vực; kết nối mạng lưới tư vấn viên và hỗ trợ kinh phí tư vấn. Doanh nghiệp được hỗ trợ tiếp cận, ứng dụng các sản phẩm, giải pháp công nghệ số, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ.

Tỉnh cũng dự kiến hỗ trợ chi phí tư vấn về quy trình kinh doanh, quản trị, sản xuất, công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp thuê, mua các giải pháp chuyển đổi số để tự động hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động. Cùng với công nghệ, Bắc Ninh chú trọng nguồn lực tài chính thông qua cơ chế hỗ trợ lãi suất vay để ứng dụng, chuyển giao công nghệ số, đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo trên môi trường số; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận, thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ số mới.

Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả chuyển đổi số. Bắc Ninh chú trọng bồi dưỡng giám đốc điều hành về chuyển đổi số, đào tạo lao động nòng cốt và phổ cập kỹ năng số cơ bản cho người lao động trong doanh nghiệp nhỏ và vừa; đồng thời tăng cường phối hợp với cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ để cập nhật kiến thức, công nghệ mới.

Cùng với đó, hạ tầng số được chú trọng, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa mở rộng ứng dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh. Tỉnh định hướng đầu tư, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, cơ sở kỹ thuật và các khu làm việc chung để doanh nghiệp trải nghiệm, thử nghiệm sản phẩm, giải pháp công nghệ số, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo. Hạ tầng viễn thông băng rộng, trong đó ưu tiên 5G tại các khu, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao và khu công nghệ số tập trung, cũng được phát triển.

Với định hướng hỗ trợ theo nhu cầu và mức độ sẵn sàng của từng doanh nghiệp, chuyển đổi số được kỳ vọng giúp khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng năng suất, chất lượng và hiệu quả quản trị. Đây cũng là điều kiện để doanh nghiệp cải thiện khả năng đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn, chất lượng, tiến độ, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp FDI trên địa bàn.

Bài và ảnh: Đồng Thúy (TTXVN)