Với nhiều lợi ích vượt trội, việc đầu tư xây dựng mô hình trung tâm công nghiệp-năng lượng tích hợp không chỉ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng tại chỗ mà còn giúp sử dụng hiệu quả tiết kiệm tài nguyên cũng như giúp giảm phát thải hiệu quả.
Hoạt động khai thác dầu khí trên vùng mỏ Bạch Hổ. Ảnh tư liệu: Huy Hùng/TTXVN
Xu hướng tất yếu trong chuyển dịch năng lượng
Trong bức tranh chuyển dịch năng lượng toàn cầu, khái niệm hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng đang trở thành một hướng đi tất yếu. Theo nghiên cứu mới nhất của nhóm tác giả thuộc Viện Năng lượng (đại học JKU Linz-Đức), mô hình công nghiệp-năng lượng sinh thái đã được phát triển thành công tại nhiều nước trên thế giới như tại các nước Bắc Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản… nhằm chia sẻ tài nguyên, giảm thiểu chất thải và tối ưu hóa năng lượng.
Tại Khu công nghiệp-năng lượng sinh thái Kalundborg (Đan Mạch)-hệ sinh thái được quản lý vận hành bởi sự hợp tác của chính quyền địa phương và doanh nghiệp, nhiệt dư từ Nhà máy điện Asnæs được sử dụng cho hệ thống sưởi khu vực và các quy trình công nghiệp. Các phụ phẩm như thạch cao, tro bay và lưu huỳnh được tái sử dụng làm đầu vào cho các ngành khác. Nước thải được tái sử dụng thành nước làm mát, giảm nhu cầu nước sạch. Hệ thống vòng kín biến dòng chất thải thành tài nguyên có giá trị.
Với mô hình này, các bên phụ thuộc lẫn nhau, tạo ra mạng lưới bền vững và tự duy trì, giảm tác động môi trường thông qua tối ưu hóa tài nguyên, chất thải cũng như nâng cao hiệu quả năng lượng. Kalundborg là chứng minh về mô hình tích hợp giúp doanh nghiệp giảm chi phí nhờ biến phụ phẩm thành tài nguyên giá trị, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, giảm mạnh phát thải CO₂ và chất ô nhiễm. Đây là mô hình tham chiếu cho nhiều quốc gia, từ Trung Quốc đến Hoa Kỳ.
Tương tự như vậy, tại khu công nghiệp sinh thái Ulsan (Hàn Quốc), quy mô 4.565 ha với hàng trăm doanh nghiệp đang hoạt động trong các lĩnh vực như sản xuất ô tô, đóng tàu, hóa dầu, mô hình này đã phát triển được 14 mạng lưới cộng sinh năng lượng (5 mạng lưới sử dụng nhiệt từ đốt chất thải; 7 mạng lưới sử dụng nhiệt từ các quy trình công nghiệp hóa chất, luyện kim;1 mạng lưới tạo khí sinh học từ xử lý chất thải hữu cơ; 1 mạng lưới sử dụng khí từ quá trình phân hủy). Theo đó, các doanh nghiệp chia sẻ, trao đổi năng lượng dư thừa (nhiệt, điện) và tài nguyên, biến chất thải của quy trình này thành nguyên liệu cho quy trình khác, từ đó giúp cải thiện 35% việc phát sinh chất thải công nghiệp và nâng cao gần 22% hiệu quả sử dụng năng lượng.
Hoàn thiện hệ sinh thái Petrovietnam
Với những lợi thế về công nghệ, nguồn lực và kinh nghiệm trong lĩnh vực công nghiệp-năng lượng, Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đang phối hợp với các địa phương để nghiên cứu, đầu tư phát triển Trung tâm công nghiệp - năng lượng sinh thái.
Trong dài hạn, Petrovietnam đang mở rộng hợp tác với chính quyền địa phương để hình thành các trung tâm công nghiệp - năng lượng mới tại khu vực phía Nam. Chủ tịch Petrovietnam Lê Ngọc Sơn cho biết: Petrovietnam tiến tới sẽ ký kết chương trình hợp tác với Thành phố Hồ Chí Minh nhằm nghiên cứu và đầu tư trung tâm công nghiệp - năng lượng sinh thái, gắn với không gian phát triển mở rộng của thành phố, đặc biệt là tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu.
Trung tâm này được định hướng phát triển theo mô hình tích hợp giữa công nghiệp - năng lượng, dịch vụ kỹ thuật biển, logistics và công nghệ môi trường, tạo ra hệ sinh thái sản xuất xanh và bền vững. Việc hình thành trung tâm công nghiệp - năng lượng mới, không chỉ góp phần hoàn thiện chuỗi giá trị năng lượng khu vực mà còn tạo thêm nhiều cơ hội việc làm chất lượng cao cho người lao động, đồng thời mở rộng các chương trình an sinh xã hội mà Petrovietnam đã duy trì trên địa bàn trong suốt nhiều năm qua.
Theo Tiến sỹ Hà Huy Ngọc - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách, Chiến lược Kinh tế địa phương và Lãnh thổ (Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới), việc Petrovietnam đang chủ động nghiên cứu, đầu tư xây dựng hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng, tích hợp nhiều tầng giá trị là bước đi mang tính chiến lược để giữ vững vai trò trụ cột an ninh năng lượng cũng như là “hộ chiếu” đưa Petrovietnam hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh giá năng lượng biến động, cạnh tranh quốc tế gay gắt và áp lực giảm phát thải ngày càng lớn, một tập đoàn năng lượng quốc gia không thể duy trì sức cạnh tranh nếu chỉ dựa vào từng mắt xích riêng lẻ.
Hệ sinh thái Petrovietnam hướng tới được định hình theo mô hình tích hợp - liên thông - tối ưu hóa. Điều này có ý nghĩa đặc biệt với nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng nhanh và nhu cầu năng lượng lớn, trong khi dư địa tài nguyên trong nước có giới hạn. Chỉ khi phát triển theo tư duy hệ sinh thái, Petrovietnam mới có thể tận dụng tối đa mọi nguồn lực, giảm chi phí đầu tư chồng chéo, đồng thời khai thác hiệu quả hơn các tài sản sẵn có, từ hệ thống đường ống, kho cảng cho đến đội ngũ kỹ sư và các trung tâm dịch vụ kỹ thuật.
Cũng theo Tiến sỹ Hà Huy Ngọc, chiến lược hình thành các trung tâm công nghiệp - năng lượng sinh thái của Petrovietnam sẽ không chỉ phục vụ riêng Petrovietnam, mà còn trở thành “đầu tàu” kéo theo các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ logistics, đào tạo nhân lực. Đây chính là mô hình “tập đoàn hạt nhân” - nơi Petrovietnam vừa đảm bảo mục tiêu sản xuất kinh doanh, vừa đóng vai trò kiến tạo hệ sinh thái kinh tế vùng và quốc gia. Nếu được triển khai đồng bộ, các trung tâm công nghiệp - năng lượng sinh thái này có thể trở thành “thỏi nam châm” thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào các lĩnh vực công nghiệp - năng lượng xanh, từ đó đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch năng lượng quốc gia.
Để Petrovietnam xây dựng hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng thành công, Tiến sỹ Hà Huy Ngọc cho rằng Petrovietnam cần tập trung liên kết chuỗi giá trị khép kín bằng việc tích hợp các khâu từ thượng nguồn - trung nguồn - hạ nguồn, kết nối chặt chẽ giữa 3 trụ cột năng lượng -công nghiệp - dịch vụ để tối ưu hóa nguồn lực, tạo lợi thế cạnh tranh bền vững.
Bên cạnh đó, cần có thể chế và cơ chế điều phối linh hoạt. Xây dựng quy chế phối hợp chuỗi rõ ràng, đơn giản hóa quy trình nội bộ, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các đơn vị thành viên và toàn Tập đoàn. Cùng đó, môn hình cần ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, phát triển cơ sở dữ liệu chung, khai thác trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bản sao kỹ thuật số (Digital Twin) trong quản trị và vận hành, giúp điều hành theo thời gian thực, nâng cao hiệu quả và giảm rủi ro. Ngoài ra, việc đầu tư hạ tầng và trung tâm tích hợp cần thông qua các trung tâm chiến lược tiếp nhận, lưu trữ, tái hóa khí (LNG) và phân phối năng lượng quy mô quốc gia (hub công nghiệp - năng lượng quốc gia), gắn liền với hệ thống cảng biển nước sâu, kho chứa, đường ống, logistics dùng chung.
Petrovietnam đã đề xuất xây dựng Trung tâm Công nghiệp Năng lượng sinh thái Petrovietnam tại phường Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Theo Petrovietnam, việc xây dựng Trung tâm công nghiệp năng lượng sinh thái là một nhiệm vụ chiến lược, nhằm tạo động lực tăng trưởng mới và dẫn dắt tương lai năng lượng quốc gia. Đề án tập trung phát triển mô hình trung tâm năng lượng sạch, công nghiệp chế biến - hóa dầu, logistics, kho cảng hiện đại, trung tâm nghiên cứu - đào tạo nhân lực và khu đô thị sinh thái.
Với vị trí trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long cùng hệ thống hạ tầng giao thông và nguồn nhân lực dồi dào, Trung tâm công nghiệp năng lượng sinh thái sẽ được quy hoạch và xây dựng trên cơ sở tích hợp nhiều loại hình năng lượng sạch và năng lượng mới, hình thành mô hình trung tâm điện lực, hóa chất xanh và dịch vụ công nghệ cao, kết nối với thế mạnh nông nghiệp của toàn vùng. Mô hình này sẽ là giải pháp chiến lược và toàn diện của Petrovietnam nhằm góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, lương thực quốc gia và thực hiện cam kết giảm phát thải ròng khí nhà kính bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, góp phần phát triển kinh tế Cần Thơ và đồng bằng sông Cửu Long.
Về lộ trình đầu tư, đề án nghiên cứu xác định đến năm 2030 đầu tư 3,4 tỷ USD, chủ yếu vào các nhà máy điện, bio-methanol, cho doanh thu khoảng 2,3 tỷ USD/năm. Đến năm 2035, đầu tư thêm 661 triệu USD vào nhiên liệu phản lực bền vững (SAF), hóa chất sinh học, thu hồi CO₂ thực phẩm và nông nghiệp công nghệ cao, cho oanh thu khoảng 2,5 tỷ USD/năm (tăng 166 triệu USD/năm). Đến năm 2050, đầu tư 14,3 tỷ USD vào năng lượng tái tạo (điện gió, mặt trời), Amoniac xanh và thu hồi CO₂, cho doanh thu khoảng 5,6 tỷ USD/năm (tăng 3,14 tỷ USD/năm).