07:07 16/07/2026

ADB cảnh báo rủi ro năng lượng đối với kinh tế châu Á

Nhật báo kinh tế Les Échos (Pháp) dẫn báo cáo mới nhất của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho rằng kinh tế châu Á sẽ đối mặt với nhiều rủi ro nếu cuộc khủng hoảng giữa Mỹ và Iran kéo dài, trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu vẫn tiềm ẩn nhiều bất ổn.

Chú thích ảnh
Quang cảnh cảng hàng hóa ở Thiên Tân, Trung Quốc. Ảnh tư liệu - minh họa: THX/TTXVN

ADB dự báo tăng trưởng kinh tế của khu vực sẽ giảm từ 5,5% trong năm 2025 xuống 4,9% vào năm 2026 do tác động của xung đột tại Vùng Vịnh và tình trạng gián đoạn hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz. Trong trường hợp Mỹ và Iran đạt được một thỏa thuận hòa bình bền vững, tăng trưởng kinh tế châu Á có thể phục hồi lên 5,1% trong năm tới, trong đó tăng trưởng kinh tế của Indonesia đạt 5,2%, Thái Lan 2% và Trung Quốc 4,5%.

Trước khi xung đột bùng phát, hơn 85% lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) vận chuyển qua eo biển Hormuz được xuất khẩu sang châu Á. Việc tuyến hàng hải này bị đình trệ hoặc gián đoạn nghiêm trọng đã khiến nhiều quốc gia như Pakistan, Bangladesh, Myanmar và Philippines rơi vào tình trạng thiếu hụt nhiên liệu, đồng thời đẩy giá tiêu dùng tăng mạnh.

Lạm phát của khu vực đã tăng từ 2,9% trong tháng 1 lên 4,1% vào tháng 5/2026 do giá năng lượng thế giới tăng cao, kéo theo chi phí vận tải, phân bón và nhiều yếu tố đầu vào khác. Để kiềm chế lạm phát, nhiều chính phủ đã áp dụng các biện pháp như trợ giá nhiên liệu, giảm thuế, kiểm soát giá và khuyến khích tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên, ADB cho rằng những giải pháp này tạo áp lực lớn lên ngân sách và khó có thể duy trì trong thời gian dài.

Đáng chú ý, dù đây được đánh giá là đợt gián đoạn nguồn cung dầu mỏ lớn nhất từng được ghi nhận, giá dầu thế giới chưa tăng mạnh như trong các cuộc khủng hoảng trước đây. Trong giai đoạn cao điểm từ tháng 4 đến tháng 5, thị trường toàn cầu thiếu hụt hơn 13 triệu thùng dầu mỗi ngày, tương đương khoảng 13% nguồn cung của năm 2025. Tuy nhiên, giá dầu chỉ tăng gấp đôi trong thời gian ngắn, thấp hơn nhiều so với các cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 và năm 1990.

Theo ADB, nguyên nhân chủ yếu là các nước xuất khẩu dầu vùng Vịnh nhanh chóng chuyển hướng vận chuyển sang các cảng ngoài eo biển Hormuz, trong khi những nhà sản xuất khác như Mỹ gia tăng nguồn cung để bù đắp phần thiếu hụt. Đồng thời, các nền kinh tế tiêu thụ dầu lớn ở châu Á cũng cắt giảm mạnh nhập khẩu. Trong giai đoạn từ tháng 2 đến tháng 5, lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc giảm khoảng 40%. Riêng Trung Quốc giảm khoảng 6 triệu thùng/ngày, qua đó bù đắp gần một nửa lượng dầu thiếu hụt do hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz bị gián đoạn.

ADB cho rằng giới phân tích vẫn chưa thống nhất về nguyên nhân khiến Trung Quốc giảm mạnh nhập khẩu dầu. Một số ý kiến cho rằng nước này đang sử dụng nguồn dự trữ chiến lược, trong khi những ý kiến khác cho rằng nhu cầu năng lượng suy giảm do hoạt động kinh tế chững lại hoặc nhờ quá trình chuyển đổi năng lượng, đặc biệt là việc mở rộng sử dụng xe điện.

Theo ADB, nếu Trung Quốc và các nền kinh tế lớn của châu Á sớm nối lại hoạt động nhập khẩu dầu và khí đốt với quy mô lớn trong khi tình trạng gián đoạn tại eo biển Hormuz vẫn kéo dài, giá năng lượng có thể tăng mạnh hơn hiện nay, qua đó gia tăng rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế của châu Á cũng như kinh tế toàn cầu.

Hữu Chiến (Pv TTXVN tại Pháp)