Với chủ trương xóa đói giảm nghèo cho đồng bào, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn... (gọi tắt là Chương trình 135 giai đoạn II). Mặc dù chương trình đã kết thúc, nhưng trong năm 2011 và 2012, Chính phủ vẫn cấp vốn để kéo dài thực hiện.
Với chủ trương xóa đói giảm nghèo cho đồng bào, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK), vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (gọi tắt là Chương trình 135 giai đoạn II). Mặc dù chương trình đã kết thúc, nhưng trong năm 2011 và 2012, Chính phủ vẫn cấp vốn để kéo dài thực hiện.
Phủ khắp vùng đặc biệt khó khăn
Chương trình (CT) 135 giai đoạn II được thực hiện trên địa bàn 50 tỉnh, 354 huyện với tổng số 1.946 xã ĐBKK, xã biên giới, xã an toàn khu và 3.274 thôn, bản ĐBKK của 1.140 xã khu vực II. Theo số liệu điều tra cơ bản, khi bắt đầu triển khai CT 135 giai đoạn II (năm 2006), tỷ lệ đói nghèo tại các xã thuộc vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi bình quân toàn quốc là 47%; tỷ lệ hộ nghèo thuộc các thôn, bản bình quân là trên 80%; đặc biệt có tới 61 huyện tỷ lệ hộ nghèo trên 50%. Kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống còn thiếu và yếu kém; hệ thống tưới tiêu quy mô nhỏ, sản xuất phân tán với phương thức lạc hậu...
|
Làm đường giao thông liên xã tạo điều kiện giao thương cho đồng bào. |
Ngay sau khi Quyết định 135 của Thủ tướng có hiệu lực, các địa phương đã khẩn trương triển khai thi công các công trình phúc lợi; cấp phát kinh phí hỗ trợ phát triển sản xuất. Và sự đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn CT 135 đã làm đổi thay diện mạo vùng cao.
Điện Biên là tỉnh miền núi, biên giới ĐBKK với 72 xã và 29 bản ĐBKK của xã khu vực II; tổng cộng có 55.820 hộ với 304.581 nhân khẩu được hưởng lợi từ CT 135 giai đoạn II. Trong đó, 53.590 hộ, 292.400 khẩu là DTTS; tỷ lệ hộ nghèo chiếm 50,83%. Tỉnh xây dựng 269 công trình tại các xã ĐBKK, hỗ trợ sản xuất (gồm hỗ trợ giống lúa, đậu tương, cây ăn quả, cây công nghiệp, trâu bò, cá giống, phân bón và mua sắm thiết bị máy móc, công cụ chế biến bảo quản) cho trên 42.000 hộ dân, mở lớp đào tạo, bồi dưỡng cho trên 8.000 lượt người.
|
Xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp đảm bảo điều kiện học tập của con em đồng bào dân tộc. |
Thực hiện CT 135 giai đoạn II, tỉnh Hà Giang đã có hàng trăm nghìn hộ DTTS được hưởng lợi từ CT 135. Tỉnh ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng cơ sở, phát triển giao thông nông thôn, thủy lợi nhỏ, hệ thống điện lưới, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt; hỗ trợ sản xuất, tăng vụ, ứng dụng thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi. Nhờ vậy đã có bản đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ, khoảng cách giàu nghèo giữa vùng miền núi cao và vùng thấp từng bước được rút ngắn, đời sống đồng bào được nâng lên.
Tỉnh Yên Bái có 65 xã và 157 thôn, bản ĐBKK thuộc 45 xã thuộc 8 huyện, thị tham gia, thụ hưởng CT 135 giai đoạn II. Với tinh thần khẩn trương xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, các công trình xây dựng do người dân quyết định, chọn lựa, tỉnh quyết liệt chỉ đạo các ban quản lý, nhà thầu, đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ thực hiện các hợp phần dự án; yêu cầu các huyện đánh giá trung thực, khách quan những mặt được và các hạn chế tồn tại trong quá trình thực hiện CT 135 giai đoạn II làm bài học cho các chương trình dự án khác.
Nhìn lại những số liệu rà soát khi triển khai CT 135 mới thấy sự khởi đầu đầy khó khăn, thách thức, và càng hiểu sâu sắc sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào dân tộc vùng ĐBKK. Các dự án phát huy hiệu quả không chỉ là động lực để bà con phát triển kinh tế hộ gia đình mà còn góp phần rút ngắn khoảng cách giữa các vùng, miền; tạo điều kiện để các xã 135 phát triển theo kịp các xã vùng thấp.
Đổi thay nhanh chóng
Mặc dù chưa một lần chạm tay vào máy vi tính, nhưng khi thấy con gái khoe tra được điểm thi đại học; tìm được thông tin giá sách vở trên mạng Internet, ông Vàng Văn Mấng, nông dân xã Bản Ngò, huyện Xín Mần (tỉnh Hà Giang) ngỡ ngàng thốt lên: “Tài thật, cái gì ‘In-tơ-nét’ nó cũng biết! Có công nghệ thông tin như thế này, đồng bào ở trên bản xa xôi vẫn có thể học tập kiến thức phục vụ sản xuất, chăn nuôi”.
|
Hỗ trợ giống cây trồng để đồng bào phát triển sản xuất. |
Bà Lèng Thị Páy, xã Mường Toong, huyện Mường Nhé (Điện Biên), kể rằng, cách đây chừng chục năm thôi, đường giao thông lên biên giới chủ yếu là đường đất, đường dân sinh trong rừng. Việc đi lại của đồng bào chủ yếu bằng đôi chân băng rừng, lội suối. Vậy mà, ngày nay con đường đã rộng thênh thang chạy suốt từ thành phố lên đến A Pa Chải - bản cuối cùng của cực Tây Tổ quốc, đi lại thật dễ dàng.
Để thực hiện CT 135 hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho Ủy ban Dân tộc là cơ quan thường trực tham mưu giúp Chính phủ trực tiếp quản lý, chỉ đạo, điều hành, giải quyết công việc giai đoạn II. Nét nổi bật nhất trong việc triển khai CT 135 giai đoạn II là sự phối hợp nhịp nhàng giữa cơ quan thường trực với các bộ, ban, ngành, chính quyền địa phương; phát huy sức mạnh lòng dân trong việc thực hiện các hợp phần dự án. Sự phối hợp, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đảm bảo nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch, phân cấp, trao quyền cho cấp huyện, cấp xã trực tiếp quản lý, điều hành các hợp phần. Từ phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng lợi”, các già làng, trưởng bản phấn khởi trước sự đổi thay của quê hương, tích cực vận động con cháu hăng hái tham gia thi công các phần việc của dự án.
Nhìn tổng thể, CT 135 thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai cả với người dân và cộng đồng quốc tế, càng sâu sắc hơn về ý nghĩa to lớn của công trình “Ý Đảng, lòng dân”. Nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả được nhân rộng; nhiều dịch vụ xã hội được mở mang, phát triển;110 xã cơ bản hoàn thành mục tiêu, thoát khỏi diện ĐBKK. CT 135 đi vào cuộc sống, phát huy sức sáng tạo, ý chí, nguồn lực của toàn xã hội, làm thay đổi cơ bản diện mạo vùng ĐBKK; đời sống đồng bào DTTS từng bước phát triển bền vững.
Đánh giá về CT 135, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Giàng Seo Phử cho rằng, trong những năm qua, mặc dù đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước đã dành nguồn lực đáng kể để xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, tạo điều kiện cho nông thôn vùng dân tộc và miền núi có nhiều tiến bộ rõ rệt, to lớn và quan trọng, phát triển các mặt KT-XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Điều đáng ghi nhận nữa là, đồng bào các DTTS đã đồng lòng, chung sức, từng bước làm “thay da đổi thịt” vùng dân tộc và miền núi; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào từng bước được cải thiện; công tác bảo tồn, gìn giữ văn hóa truyền thống của các dân tộc được coi trọng…
Bài và ảnh: Xuân Vũ