Báo cáo Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH 2012 và nhiệm vụ 2013 (phần 1)

Sáng 22/10, tại phiên khai mạc kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XIII, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2012 và nhiệm vụ năm 2013. Tin tức trân trọng giới thiệu toàn văn Báo cáo của Chính phủ:

“Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa các đồng chí lão thành cách mạng và các vị khách,

Thưa đồng chí, đồng bào,

Thay mặt Chính phủ, tôi xin trân trọng báo cáo với Quốc hội và đồng bào cả nước một số vấn đề lớn về tình hình kinh tế, xã hội năm 2012; mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp chủ yếu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trình bày Báo cáo của Chính phủ về “Tình hình kinh tế, xã hội năm 2012 và nhiệm vụ năm 2013”. Ảnh : Nhan Sáng – TTXVN


Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2012

Chúng ta thực hiện nhiệm vụ năm 2012 trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động rất phức tạp và khó khăn nhiều hơn, thương mại sụt giảm mạnh, tăng trưởng toàn cầu thấp so với dự báo đầu năm, tác động tiêu cực đến nền kinh tế đã hội nhập sâu rộng và có độ mở lớn như nền kinh tế nước ta. Ở trong nước, việc thắt chặt tài khóa và tiền tệ để kiềm chế lạm phát là cần thiết nhưng hệ quả là cầu nội địa giảm mạnh, hàng tồn kho lớn, lãi suất tín dụng tăng cao; doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, sản xuất khó khăn. Bên cạnh đó, chúng ta phải dành nhiều thời gian và công sức để đối phó với thiên tai, dịch bệnh, các âm mưu thủ đoạn gây mất ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia.

Bối cảnh trên đặt ra những thách thức lớn trong lựa chọn chính sách và điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012. Chính phủ đã quyết liệt triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để thực hiện mục tiêu đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội[1]. Trên cơ sở kết quả 9 tháng đầu năm 2012 và ước thực hiện trong các tháng cuối năm, Chính phủ xin báo cáo Quốc hội đánh giá tình hình kinh tế, xã hội năm 2012 trên các nội dung chủ yếu như sau:

1. Về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh


Đã kiên trì mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa, tiền tệ chặt chẽ. Kinh tế vĩ mô có những tiến bộ trên một số tiêu chí quan trọng.

Lạm phát bước đầu được kiềm chế, giá tiêu dùng 9 tháng tăng 5,13%. Trong những tháng cuối năm sẽ thực hiện các biện pháp để giữ mức lạm phát cả năm khoảng 8%.

So với đầu năm, lãi suất cho vay đã giảm. Tỷ lệ tín dụng cho khu vực nông nghiệp và nông thôn tăng. Thanh khoản của hệ thống ngân hàng có bước cải thiện. Huy động tiền gửi tăng 12,7%. Tỷ giá ổn định, niềm tin vào đồng tiền Việt Nam được củng cố, khắc phục một bước tình trạng sử dụng ngoại tệ, vàng để làm phương tiện thanh toán ở trong nước. Xuất khẩu tăng 18,9%, đạt 83,79 tỷ USD, nhập khẩu tăng 6,6%, đạt 83,76 tỷ USD. Ước xuất khẩu cả năm tăng 16,6%, nhập khẩu tăng 6,8%, nhập siêu khoảng 1 tỷ USD, bằng 0,9% kim ngạch xuất khẩu. Dự trữ ngoại hối tăng, đạt trên 11 tuần nhập khẩu; cán cân thanh toán quốc tế thặng dư trên 8 tỷ USD.

Thu ngân sách đạt 67,3%, chi ngân sách đạt 71,2% dự toán. Với tín hiệu tích cực của những tháng cuối năm, ước thu ngân sách cả năm đạt kế hoạch, bảo đảm được các nhiệm vụ chi và giữ bội chi ngân sách ở mức 4,8% GDP, đạt chỉ tiêu Quốc hội đề ra.

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước bằng 29,5% GDP (năm 2011 là 34,6%). Nhiều biện pháp tháo gỡ khó khăn được thực hiện, tình hình sản xuất kinh doanh dần được cải thiện. Hàng tồn kho giảm[2]. Số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể giảm dần tuy vẫn còn cao so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp đăng ký mới[3] tăng nhưng vẫn thấp hơn năm trước.

Sản xuất công nghiệp tăng dần qua từng quý[4]. Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 4,8%, ước cả năm tăng 5,3%. Công nghiệp khai khoáng và các ngành sản xuất gây ô nhiễm, tiêu tốn năng lượng tăng thấp hơn mức bình quân. Nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài áp dụng công nghệ cao có xuất khẩu tăng mạnh.

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát triển, giữ vai trò rất quan trọng trong ổn định kinh tế và đời sống nông thôn. Giá trị sản xuất toàn ngành 9 tháng tăng 3,7%, ước cả năm đạt khoảng 3,9%. Sản lượng lúa cả năm ước đạt trên 43 triệu tấn, tăng khoảng 1 triệu tấn so với năm 2011, xuất khẩu khoảng 7 triệu tấn gạo, đều là mức cao nhất so với các năm trước. Nuôi trồng thủy sản tăng khá, ước cả năm xuất khẩu đạt 6,5 tỷ USD trong tổng số 26,5 tỷ xuất khẩu của toàn ngành (năm 2011 là 25 tỷ).

Khu vực dịch vụ tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 17,3%, nếu loại trừ yếu tố giá cũng tăng 6,7%, ước cả năm tăng 18%. Doanh thu du lịch ước cả năm tăng trên 15%, số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng trên 8%. Khối lượng vận chuyển hành khách tăng 12,1%, ước cả năm tăng 13%; bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển mạnh.

Tăng trưởng kinh tế 9 tháng đạt 4,73%, ước cả năm đạt khoảng 5,2%, thấp hơn kế hoạch nhưng quý sau cao hơn quý trước[5], lạm phát được kiềm chế, kinh tế vĩ mô ổn định hơn là những dấu hiệu tích cực để phát triển bền vững trong thời gian tới[6].

2. Về thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng


Tại Kỳ họp trước, Chính phủ đã báo cáo Quốc hội Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt và chỉ đạo triển khai thực hiện các đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước[7], tái cơ cấu thị trường tài chính, ngân hàng[8] và tái cơ cấu đầu tư theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa XI), coi đây là những nội dung quan trọng trong tổng thể tái cơ cấu. Đã chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện thể chế về đầu tư nhằm huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội vào đầu tư phát triển, giảm tỷ trọng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước. Đổi mới việc lập kế hoạch vốn đầu tư tập trung, vốn trái phiếu Chính phủ và vốn chương trình mục tiêu quốc gia từ kế hoạch hàng năm sang kế hoạch trung hạn; khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, vượt quá khả năng cân đối của ngân sách, tập trung vào các chương trình, dự án quan trọng. Quy định rõ trách nhiệm của người quyết định đầu tư về chất lượng và hiệu quả của các công trình xây dựng. Đã chỉ đạo rà soát, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch nhiều ngành, lĩnh vực, địa phương để làm cơ sở quản lý đầu tư trung và dài hạn.

Triển khai thực hiện tái cơ cấu ngân hàng thương mại, nhất là các ngân hàng yếu kém, gắn với việc xử lý nợ xấu. Tăng cường thanh tra, giám sát đối với các tổ chức tín dụng, công ty tài chính, chứng khoán, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm nhằm bảo đảm cho thị trường tài chính phát triển lành mạnh[9]. Triển khai thực hiện tái cơ cấu các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước theo hướng tập trung vào ngành nghề kinh doanh chính, quy mô phù hợp với thị trường, năng lực quản trị và khả năng tài chính. Tập trung hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và quản lý của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước. Quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng chủ thể, nhất là của bộ quản lý ngành và hội đồng quản trị doanh nghiệp.

3. Về bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội

Chính phủ đã tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các chương trình, chính sách xã hội, trọng tâm là tạo việc làm, tăng thu nhập và giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo ước cả năm giảm 1,76%. Tuy không đạt kế hoạch là 2% nhưng trong điều kiện kinh tế khó khăn thì đây là một cố gắng lớn.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, qua 9 tháng đã giải quyết được 1,13 triệu việc làm mới, ước cả năm đạt khoảng 1,52 triệu. Thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho trên 280 nghìn lao động. Tình hình lao động ở các khu công nghiệp cơ bản ổn định. Một bộ phận lao động được đào tạo, chuyển nghề mới phù hợp hơn.

Quan tâm chăm lo 8,8 triệu người có công, trong đó gần 1,5 triệu người đang hưởng trợ cấp thường xuyên. Số hộ người có công có mức sống thấp hơn mức trung bình tại địa bàn nơi cư trú giảm xuống chỉ còn dưới 5%.

Thu hút được 10,34 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó có 10,2 triệu là bảo hiểm xã hội bắt buộc tăng 4,2% so với cùng kỳ; 8,07 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp tăng 6,6% so với cùng kỳ. Thực hiện trợ cấp xã hội thường xuyên cho gần 2,3 triệu người (trên 40 nghìn người trong các cơ sở bảo trợ xã hội). Đã kịp thời cứu trợ, khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sản xuất, ổn định đời sống nhân dân.

Công tác chăm sóc sức khỏe, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, phòng chống HIV/AIDS được tiếp tục quan tâm chỉ đạo và đạt được những kết quả tích cực[10]. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt gần 68% (tăng 5%). Nhờ các chính sách hỗ trợ nên khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo, cận nghèo vẫn được bảo đảm.

4. Về phát triển văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường


Văn hóa, thể thao tiếp tục được quan tâm, gắn với thực hiện các cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và chương trình xây dựng nông thôn mới. Việc gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc được chú trọng. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận di sản văn hóa. Công tác quản lý lễ hội tiếp tục được chấn chỉnh. Chính phủ đã trình Hội nghị Trung ương 6 (Khóa XI) đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; đề án phát triển khoa học và công nghệ, tạo cơ sở thực hiện đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Hầu hết các chỉ tiêu về phát triển giáo dục và đào tạo đều đạt và vượt kế hoạch. Chất lượng giáo dục có bước tiến bộ. Cơ sở vật chất trường, lớp học tiếp tục được tăng cường, kiên cố hóa. Ký túc xá sinh viên được quan tâm đầu tư. Cơ bản khắc phục tình trạng xã trắng về giáo dục mầm non. Số trẻ mẫu giáo đạt gần 3,6 triệu, tăng 7,6% so với kế hoạch. Các chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng… mang lại hiệu quả thiết thực. Đặc biệt là chính sách cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên đã khắc phục được tình trạng bỏ học do không có tiền đóng học phí[11]. Công bằng xã hội trong giáo dục được bảo đảm tốt hơn.

Hoạt động nghiên cứu khoa học đạt được những kết quả tích cực. Một số công trình nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế - xã hội. Trình độ công nghệ trong một số lĩnh vực như điện tử, công nghệ thông tin, chế tạo thiết bị dầu khí... được nâng cao. Kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ được nhân rộng, nhất là trong nông nghiệp, y tế, xây dựng công trình. Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ được đẩy mạnh.

Đã tập trung chấn chỉnh công tác quản lý, khai thác khoáng sản và sử dụng đất lúa. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, biện pháp bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được tích cực triển khai. Chủ động tham gia các sáng kiến, các diễn đàn quốc tế lớn về bảo vệ môi trường, phù hợp với định hướng phát triển bền vững của đất nước. Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường được tăng cường. Nhiều chỉ tiêu về môi trường, phát triển bền vững đạt và vượt kế hoạch. Việc sản xuất, nhập khẩu và sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật... được tăng cường quản lý.

5. Về cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm

Cải cách hành chính tiếp tục được triển khai đồng bộ cả về thể chế, tổ chức cán bộ, thủ tục hành chính và tài chính công.

Đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy các Bộ, cơ quan ngang Bộ, phân định rõ trách nhiệm quản lý các lĩnh vực giữa các Bộ, ngành bảo đảm mỗi việc đều có cơ quan chịu trách nhiệm chính. Đang tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức các cơ quan chuyên môn của chính quyền địa phương theo hướng bảo đảm quản lý thống nhất của trung ương và phù hợp với đặc thù của địa phương.

Tăng cường công tác quản lý cán bộ, công chức, thanh tra công vụ, kỷ luật, kỷ cương hành chính; chấn chỉnh thái độ phục vụ của đội ngũ công chức, đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh công chức, viên chức và tuyển chọn, nâng ngạch công chức theo nguyên tắc cạnh tranh.

Công tác cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh. Trên cơ sở kết quả hệ thống hóa và công khai các thủ tục hành chính ở 4 cấp chính quyền, việc kiểm soát thủ tục hành chính đã trở thành một khâu bắt buộc khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật.

Tiếp tục đổi mới quản lý tài chính công, nhất là trong thu chi ngân sách, phân bổ vốn đầu tư, trong cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập như y tế, giáo dục, khoa học công nghệ...

Công tác phòng chống tham nhũng tiếp tục được quan tâm chỉ đạo gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khoá XI). Tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 và Luật phòng chống tham nhũng. Tăng cường chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, phối hợp các cơ quan chức năng trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí. Tập trung chỉ đạo xử lý các vụ án tham nhũng.

Đã tổng kết công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tập trung chỉ đạo xử lý các vụ việc tồn đọng, công khai hồ sơ, kết quả xử lý, bảo đảm lợi ích hợp pháp của người dân và kỷ cương pháp luật. Chỉ đạo xử lý phù hợp những vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp được dư luận đặc biệt quan tâm.

Công tác thông tin, tuyên truyền được quan tâm, đẩy mạnh. Thông qua các chương trình giao lưu trực tuyến, chương trình “Dân hỏi Bộ trưởng trả lời”, việc giải trình trước các Ủy ban của Quốc hội, các Bộ, ngành chủ động thông tin về hoạt động của mình và tiếp nhận ý kiến đóng góp, đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần tạo đồng thuận xã hội.

6. Tăng cường công tác đối ngoại, bảo đảm quốc phòng an ninh, ổn định chính trị - xã hội

Đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, phù hợp, xử lý kịp thời các vấn đề nảy sinh, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và độc lập, chủ quyền quốc gia.

Thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được tăng cường. Lực lượng vũ trang tiếp tục được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Tiềm lực quốc phòng và công nghiệp quốc phòng được nâng lên. Gắn kết chặt chẽ hơn phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh.

Công tác đối ngoại tiếp tục phát triển cả chiều rộng và chiều sâu. Kết hợp chặt chẽ đối ngoại của Đảng với ngoại giao của Nhà nước và ngoại giao nhân dân; tạo môi trường quốc tế thuận lợi để bảo vệ chủ quyền, hội nhập quốc tế, huy động nguồn lực phát triển và nâng cao vị thế đất nước.

Công tác phòng chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội được tăng cường và có những chuyển biến tích cực. Đã phá nhiều đường dây tội phạm quy mô lớn, nhất là tội phạm ma túy, buôn bán người. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục phòng chống tội phạm vị thành niên. Trật tự, an toàn giao thông được tập trung chỉ đạo, giảm mạnh cả về số vụ tai nạn, số người chết và số người bị thương[12].

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, nổi lên là:

Kinh tế vĩ mô chưa vững chắc. Lạm phát vẫn có nguy cơ tăng trở lại. Nợ xấu gia tăng, xử lý còn chậm và còn nhiều khó khăn. Lãi suất tín dụng còn cao so với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tăng trưởng huy động vốn cao hơn nhiều so với tăng trưởng tín dụng cho vay; chênh lệch lãi suất huy động và lãi suất cho vay còn lớn. Doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, khó tiếp cận được nguồn vốn, tồn kho lớn. Số lượng doanh nghiệp phải giải thể, ngừng hoạt động còn nhiều. Thị trường bất động sản đình trệ, chưa có khả năng phục hồi sớm, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả thấp, vi phạm pháp luật, gây thất thoát lớn tài sản nhà nước. Tái cơ cấu tập đoàn Vinashin còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước còn chậm. Tiến trình tái cơ cấu đầu tư, doanh nghiệp nhà nước, thị trường tài chính, ngân hàng thương mại đang ở giai đoạn đầu, còn nhiều khó khăn, cần có quyết tâm cao, nguồn lực cần thiết và lộ trình thích hợp. Chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa được cải thiện nhiều. Năng lực dự báo kinh tế, xã hội còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu.

Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Do nguồn lực còn hạn chế nên việc mở rộng diện và nâng mức hỗ trợ các chính sách an sinh xã hội, chương trình giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, tạo việc làm và cải cách tiền lương chưa đáp ứng được yêu cầu.

Giáo dục đào tạo vẫn còn nhiều yếu kém; chất lượng đào tạo của nhiều trường đại học, cao đẳng, chậm được cải thiện; việc xây dựng các trường đại học trọng điểm, đại học xuất sắc còn chậm; cơ sở vật chất một số trường đại học chưa đáp ứng được yêu cầu; chất lượng, hiệu quả dạy nghề còn thấp, nhất là dạy nghề cho lao động nông thôn. Khoa học và công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Những hạn chế, yếu kém trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân và tình trạng quá tải bệnh viện chậm được khắc phục; quản lý giá thuốc và dịch vụ y tế chưa tốt. Hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao còn nhiều hạn chế.

Công tác quản lý tài nguyên, môi trường còn bất cập; số dự án treo còn lớn. Một số công trình thuỷ điện chưa đạt được các mục tiêu đề ra, gây bức xúc trong nhân dân. Việc khai thác, xuất khẩu trái phép khoáng sản vẫn còn xảy ra ở một số địa phương. Ô nhiễm môi trường tại nhiều khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, làng nghề, lưu vực sông vẫn còn nặng nề. Tình trạng ngập lụt tại một số thành phố lớn chậm được khắc phục.

Trật tự, an toàn xã hội vẫn còn nhiều bức xúc, nhất là tình trạng tội phạm, tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm... Công tác quản lý thông tin, nhất là thông tin mạng, blog cá nhân chưa tốt, còn bị các thế lực thù địch lợi dụng bịa đặt, xuyên tạc, gây tác hại xấu. Một số cơ quan nhà nước còn thiếu chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời để định hướng đúng dư luận. Một số báo đưa tin thiếu khách quan, sai lệch, khai thác nhiều tin tiêu cực, gây tâm lý không tốt.

Cải cách hành chính chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhiều thủ tục hành chính không còn phù hợp, chậm được sửa đổi. Kỷ cương hành chính chưa nghiêm, công tác kiểm tra, giám sát còn nhiều yếu kém, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành. Một bộ phận cán bộ, công chức suy thoái, không làm tròn trách nhiệm, nhũng nhiễu, tiêu cực, ảnh hưởng tới lòng tin của nhân dân.

Nhìn tổng quát, trong điều kiện phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, công tác lãnh đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 đã bám sát mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong các nghị quyết của Đảng và Quốc hội, đạt và vượt 10 trên 15 chỉ tiêu kế hoạch. Lạm phát được kiềm chế, kinh tế vĩ mô chuyển biến theo hướng ổn định hơn, tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước. Nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng cao, khẳng định vai trò quan trọng trong ổn định và phát triển đất nước. Tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng đạt được một số kết quả bước đầu. An sinh xã hội được bảo đảm. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt những kết quả tích cực. Quốc phòng, an ninh được tăng cường. Trật tự an toàn xã hội có tiến bộ.

Tuy nhiên, còn 5 chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch[13], khó khăn của nền kinh tế vẫn còn lớn, hạn chế, yếu kém còn nhiều. Các nhiệm vụ trung hạn nhằm tạo lập nền tảng cho ổn định vĩ mô và tăng trưởng bền vững mới ở giai đoạn khởi động, thách thức còn ở phía trước. Trong khi đó, nhiệm vụ còn lại của những tháng cuối năm là rất nặng nề. Để đạt được mục tiêu tăng GDP cả năm 5,2% thì quý IV phải đạt mức tăng 6,5% (trong khi mức tăng quý III chỉ là 5,35%) đòi hỏi cả hệ thống chính trị, các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp phải nỗ lực thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao trở lại, tích cực chuẩn bị các điều kiện cho tăng trưởng cao hơn trong năm 2013.

(Còn tiếp)


TTXVN/Tin tức

Chính trị

Hội nhập

Phản hồi

Góc nhìn

Hợp tác nội dung
KÊNH THÔNG TIN CỦA CHÍNH PHỦ DO TTXVN PHÁT HÀNH Tổng biên tập: Ninh Hồng Nga | Giới thiệu - Liên hệ tòa soạn
Giấy phép xuất bản Số 16/GP-TTĐT cấp ngày 11/3/2009
Tòa soạn: Số 5 Lý Thường Kiệt, Hà Nội
Điện thoại: 04-38267042, 04-38252931(2339,2208)- Fax: 04-38253753
Email:baotintuc@vnanet.vn – toasoantintuc@gmail.com
© Bản quyền thuộc về Báo Tin tức - TTXVN
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản
Liên kết site: báo thể thao, ngoại hạng anh