Xã hội » Phóng sự

Thứ Tư, 18/04/2012 23:06

Vùng đất lịch sử và huyền thoại

Cũng như bất cứ người dân Việt nào khi đi xa đều da diết nhớ quê và nếu có điều kiện thường tìm về thăm quê cha đất tổ của mình. Xa quê hàng chục năm, tôi về thăm quê để chia vui với người trong làng, trong xã nhân dịp khánh thành Đình làng Nứa vừa mới được trùng tu trên nền đình cũ.

Cũng như bất cứ người dân Việt nào khi đi xa đều da diết nhớ quê và nếu có điều kiện thường tìm về thăm quê cha đất tổ của mình. Xa quê hàng chục năm, bôn ba đất khách xứ người, tôi về thăm quê để chia vui với người trong làng, trong xã nhân dịp khánh thành Đình làng Nứa vừa mới được trùng tu trên nền đình cũ.

Liên Hiệp là tên mới của xã, thành lập sau Cách mạng Tháng 8. Hiện có 6 thôn: Quan Chiêm, Bến Bái, Ngừ, Nại, Nứa, Khuốc với 300,5ha diện tích đất tự nhiên; số nhân khẩu trong xã là 5.149 người. Theo các cụ già trong làng và thần tích, thần phả thì trước đây xã có tên là: "Khuông Phù" thuộc Tổng Tống Xuyên, huyện Hưng Nhân, tỉnh Thái Bình - với 3 thôn: An Nữ - Nhữ Thủy (nay là làng Nứa), Chi Cấp (làng Khuốc), Phù Ngự (làng Ngừ). Sau này thêm các thôn An Hải (Nại), Bến Bái (Bùi Lâm), Quan Sát (Quan Chiêm). Các làng trước đây vào thời Lê thuộc Tổng Tống Xúc sau mới đổi là Tổng Tống Xuyên. Cuộc sống của người dân quê tôi chủ yếu dựa vào đồng ruộng, các làng đều có nghề riêng của mình: Quan Chiêm, Bến Bái thường trồng mía, trồng đay. Ở đây có giống mía Sài Đường, Tiêu Hòa, mía đùi gà thân to, dóng ngắn, tước vỏ đi khi ăn mía rất giòn, độ ngọt đậm, mát và bổ. Có lẽ không có nghề nào vất vả bằng trồng mía và trồng đay. Khi cây lớn phải vào trong ruộng tuốt lá mía và tước vỏ đay. Cực nhọc nhất là khi trời nóng rát, nồng nực khó chịu nhưng vẫn phải làm. Làng Nứa, làng Ngừ từ xa xưa có nghề đan võng cha truyền con nối. Còn gì thích hơn khi trời nóng nực, buộc hai đầu võng vào hai thân cây ở vườn cứ thế tha hồ mà đu võng. Khi còn nhỏ, tôi vẫn nghe bà hát:

Đền thờ Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung.


"Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Nứa với anh thì về
Làng Nứa sông, ruộng tứ bề
Có ao tắm mát, có nghề võng đan".



Quả thật, trước đây ba mặt của làng là ruộng cấy lúa, một mặt giáp sông Thái Sư. Vì thế mà đường vào làng mùa mưa nước dâng cao phải xắn quần mà lội mới đi được tới ngõ nhà mình. Câu ca xưa: "Trăm cái tội không bằng cái lội làng Nứa" vẫn cứ ám ảnh người dân quê tôi. Đến nay đường làng đã được tôn cao, rải đá, láng xi măng vào tận từng nhà. Cuộc sống đã thay da, đổi thịt. Nhưng có lẽ ấn tượng nhất đối với lũ trẻ chúng tôi thời thơ ấu là những ngày lễ hội của làng, của xã. Theo các cụ cao niên trong làng: Liên Hiệp là đất địa linh nhân kiệt, theo người xưa truyền lại thế đất nơi đây có ấn, có án thư, có minh đường hoàng đạo, có chim đại bàng đỗ, có đất hình nhân tất sinh người tài giỏi. Chẳng biết có đúng hay không nhưng ở vùng quê tôi làng nào cũng có di tích lịch sử: Làng Ngừ, làng Nại là nơi có lăng mộ Thái sư Trần Thủ Độ và Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung. Nơi đây còn là quê hương của Tiến sĩ Đoàn Huệ Nhu - người Thái Bình duy nhất có tên trong Tao Đàn Nhị thập bát tú thời Lê (do vua Lê Thánh Tông làm chủ súy). Vào những ngày tế lễ đầu năm hoặc những ngày cúng giỗ Thái sư Trần Thủ Độ và Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung, người dân quê tôi đều nô nức trẩy hội tưởng nhớ công lao của vợ chồng Thái sư. Lũ trẻ chúng tôi thường thức dậy rất sớm để theo sau kiệu rước hoặc chen nhau xem múa rồng, chọi gà, đấu vật. Hội mở ba ngày, dân các nơi trong vùng kéo đến dự hội chật đường làng, sân đình. Vào những đêm hội làng, ông tôi thường kể cho con cháu nghe chuyện bà Chúa Ngừ và Đức ông Thái sư.

Lăng mộ Thái Sư Trần Thủ Độ (làng Ngừ - xã Liên Hiệp).

Thuở xa xưa, làng còn có tên là làng Phù Ngự. Vào cuối thời Lý, vùng đất này là trang ấp của ông Tô Trung Từ, một vị quan triều Lý. Truyền rằng, khi đó ở Lưu Gia Trang (nay là Lưu Xá - Canh Tân) có dòng họ Trần từ Tức Mặc (Nam Định) sang định cư, vốn trước làm nghề chài lưới, sau trở nên giàu có trong vùng. Trong dòng họ đó đến đời ông Trần Lý đã lấy chị ruột của Thái úy Tô Trung Từ. Trần Lý sinh Trần Thừa, Trần Tự Khánh và Trần Thị Dung... Tương truyền khi còn nhỏ tuổi, bà Trần Thị Dung thường sang ở nhà cậu ruột Tô Trung Từ tại đất Phù Ngự. Nếu như cuộc hôn nhân giữa ông Trần Lý và cô gái họ Tô là tiền đề cho quá trình lập nghiệp, nuôi chí lớn sau này của dòng họ Trần, thì sự hiện diện của bà Trần Thị Dung lại là tiền đề trực tiếp cho sự thay đổi của Vương triều nhà Trần đối với Vương triều nhà Lý vào những năm sau đó. Gần 800 năm trôi qua, với biết bao biến động của thời gian, nhưng Phù Ngự xưa - Liên Hiệp nay vẫn còn thủy chung giữ lại được những dấu ấn đẹp đẽ của người con gái họ Trần đã một thời làm vẻ vang, rạng rỡ cho quê hương, đất nước.

Khi xưa, ông tôi thường, nói đất Phù Ngự quê ta thật là Linh dị, được chọn làm nơi thờ cúng, đặt mộ của ông bà Tướng quốc Thái sư. Quả vậy, cứ theo sách "Kiến văn tiểu lục" của Bảng Nhãn Lê Quý Đôn thì: "Trần Thủ Độ sau khi chết, chôn ở địa phận xã Phù Ngự, huyện Ngự Thiên, nơi để mả có hổ đá, dơi đá, chim đá, bình phong đá - chỗ đất ấy rộng đến hai mẫu, cây cối um tùm. Về tự điền trước liệt vào hạng thượng đẳng, các quan phủ, quan huyện, huấn giáo đến kính tế". Hàng năm nhân dân Phù Ngự cứ đến ngày mùng 6 và mùng 7 tháng Giêng thường tổ chức lễ hội cúng Tướng quốc Thái sư và bà Linh từ. Các con thú bằng đá để ở mộ ông hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Gần đây ngôi đình thờ ông (bị giặc Pháp tàn phá) đã được UBND tỉnh, huyện và nhân dân trong xã tôn tạo lại khang trang to đẹp. Khu vực thờ ông được sửa sang tường bao vững chắc, trước mộ có nhà bia và hai hàng nến đá chạy dọc theo sân (rộng hàng ha) từ nhà bia tới mộ. Cây đa cổ thụ trên mộ ông vẫn tỏa bóng vươn xa, càng tăng thêm vẻ hấp dẫn linh thiêng ở nơi thờ tự vị Thái sư đầu tiên của Vương Triều Trần. Đền và đình làng Khuốc thờ ông hàng năm cũng đều tổ chức lễ hội long trọng - đây là ngôi đình cổ kính to nhất xã. Bức tượng cổ tạc chân dung ông hiện được thờ trong đền được coi là một trong những bức tượng đẹp nhất ở Thái Bình và trong cả nước. Trong đình còn lưu giữ được bức chạm và cốn bưng của tòa Đại Bái với ba chữ Hán khắc rất đẹp: "Thái Sư Từ". Sân đình rộng hàng sào đất được lát gạch bát, ao đình nước trong vắt, cá bơi lội tung tăng. Đứng từ cửa đình làng Khuốc ta có thể nhìn thấy rất rõ lăng mộ của Tướng quốc Thái sư và mộ Linh từ Quốc mẫu.

Qua cây cầu chênh vênh nối làng Khuốc với làng Nứa, tới cái chợ nhỏ mà ngày bé tôi vẫn thường theo bà đi bán võng, với ước mong chỉ để được ăn bát canh bánh đa nấu cua, thứ bánh đa vừa mềm vừa ngon nổi tiếng của làng Me (Hòa Tiến). Cách đó không xa là Đền thờ bà "Thiều Dương Công chúa" - công chúa con của vua Trần Thái Tông và bà Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng Thái hậu. Đền nhìn ra dòng sông Thái Sư quanh năm rập rờn sóng vỗ. Ngôi đền cổ này gắn bó tuổi thơ chúng tôi với biết bao kỉ niệm không thể nào quên về những câu chuyện mà các cụ già trong làng kể lại với sự tri ân công đức của bà với dân làng. Làng Nứa ngày nay là sự sát nhập của hai ấp xưa: An Nữ và Nhữ Thủy. Trong đền còn bài vị, câu đối thờ bà - nghe nói trước đây có tượng thờ rất đẹp, nhưng nay không còn. Hiện trong đền còn lưu giữ được bảy đạo sắc phong cho Thiều Dương Công chúa - từ thời các vua: Lê Cảnh Hưng năm thứ 44 đến thời Gia Long, Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân và đạo cuối cùng là của vua Khải Định năm thứ 9 (25/7/1924). Hàng năm đến mùng 1 tháng Tư, dân làng lại tổ chức lễ hội tưởng nhớ tới bà, một vị công chúa nổi tiếng hiếu thảo, người đã có công, có ân sâu nghĩa nặng với dân làng Nứa, Quan Chiêm...

Không chỉ là nơi sinh sống và có lăng mộ của các hoàng thân quốc thích nhà Trần mà đất Liên Hiệp với các làng cổ xưa: Chi Cấp, Ngừ, Nhữ Thủy, An Nữ còn là vùng đất nổi tiếng khoa bảng, nhất là vào thời Lê, Nguyễn. Theo các tài liệu lịch sử còn lưu lại: Đất Phù Ngự xưa là quê hương của Tiến sĩ Đoàn Huệ Nhu - thời vua Lê Thánh Tông. Đến năm 1499, làng Nhữ Thủy (nay thuộc làng Nứa) có ông Lê Thừa Hưu đỗ đồng Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi triều vua Lê Hiển Tông, làm quan đến chức Bình khoa đô cấp sự trung; ông được sung chức Phó sứ đi Trung Quốc. Năm 1724, ấp Nhữ Vĩnh (Nhữ Thủy) - (xã Liên Hiệp), huyện Ngự Thiên lại có ông Đồng Hưu đỗ tiến sĩ. Sử ghi ông sinh năm 1687, không rõ mất năm nào, thuộc dòng dõi quan Tể tướng nhà Lê (Đồng Tôn Cảnh) - quê gốc ở đất Chí Linh - Hải Dương, sau di cư đến ấp Nhữ Vĩnh (Nhữ Thủy) sinh sống, học tập. Khoa thi năm Giáp Thìn đời vua Lê Dụ Tông niên hiệu Bảo Thái thứ 5 (1724) đỗ Đệ Tam Giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Ông đã từng làm Huấn đạo hàm Tự Khanh; hai lần được triều đình cử đi sứ Trung Quốc. Sau này ông về Trí Sĩ và mất tại Chí Linh - Hải Dương.

Nối tiếp truyền thống hiếu học của cha ông, ngày nay trong xã Liên Hiệp cũng có người là tiến sĩ, thạc sĩ và hàng trăm người đậu cử nhân (đại học) ở các chuyên ngành. Hàng năm vào ngày đầu xuân và ngày mùng 1 tháng Tư (âm lịch), làng mở hội, từ khắp nơi trong và ngoài nước người dân quê tôi lại trở về sum họp với gia đình và dự lễ hội tưởng nhớ tới những danh nhân lịch sử, văn hóa của quê hương. Để khi xa quê, mỗi người dân Liên Hiệp lại càng thêm tự hào về truyền thống văn hiến vẻ vang của ông cha mình, hăng say lao động đóng góp công sức nhỏ bé của mình cho sự trường tồn của đất nước và sự giàu đẹp của quê hương thân yêu - nơi có phần mộ của vợ chồng Linh từ Quốc mẫu đang yên giấc ngàn thu.

Đặng Hùng

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên: (*) Địa chỉ Email: (*)
Bình luận
Xem theo ngày:

Đồng hành cùng vùng khó

Cây cầu nối những ước mơ

Cây cầu nối những ước mơ

Thấm thoắt 1 năm đã trôi qua, hôm nay, tôi trở lại thôn Khe Luộc, xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai vào thời điểm đầu năm học mới. Đã có cây cầu mới nên bến đò xưa giờ vắng lặng không một bóng người.

Thông tin - Quảng cáo

K+ khuyến mại giá “sốc”

K+ khuyến mại giá “sốc”

K+ vừa thông báo thực hiện chương trình ưu đãi đặc biệt dành cho người hâm mộ bóng đá Việt Nam với giá thiết bị chỉ còn 250.000 đồng/bộ thay vì 990.000 đồng/bộ.