Xã hội » Phóng sự

Thứ Năm, 26/04/2012 16:25

Cây đào tình yêu

Trong đời lính đảo của mình, có những kỷ niệm thẳm sâu, ghim vào ký ức không thể nào quên được. Với tôi, đó là kỷ niệm về “cây đào tình yêu” trên đảo Hòn Nồm...

Trong đời lính đảo của mình, có những kỷ niệm thẳm sâu, ghim vào ký ức không thể nào quên được. Với tôi, đó là kỷ niệm về “cây đào tình yêu” trên đảo Hòn Nồm...

Ngày ấy, tôi là khẩu đội trưởng khẩu đội pháo 12 li 7. Khẩu đội gồm “ 3 chàng ngự lâm pháo thủ”, thì tôi và Lê Quốc Đông quê ở Cửa Hội, Nghi Xuân ( Hà Tĩnh) và Nguyễn Văn Mùi quê Nghi Công, Nghi Lộc ( Nghệ An). Chiều 26 áp Tết năm 1967, khẩu đội nổ súng đón đầu “thằng” AD6 bổ nhào. Hai điểm xạ dài của khẩu 12 li 7 vừa dứt, “thằng giặc nhà trời”(*) đã biến thành một đống lửa rừng rực. Thay vì cắt bom, hắn đâm đầu xuống biển cách đảo chưa đầy cây số. Một tiếng nổ kinh hoàng làm dựng lên một cột nước thẳng đứng trông như chiếc vòi rồng dựng ngược, cao dễ đến mấy chục mét, nuốt chửng con quạ sắt.

Sáng hôm sau, đảo trưởng Trần Văn Vui gọi cả ba người của khẩu đội lên Ban chỉ huy. Vừa tay bắt, mặt mừng, đảo trưởng vừa tấm tắc: “Khá lắm! Bắn chác thế, các cậu thật không hổ danh lính đảo!”. Chính trị viên đảo Hoàng Văn Hai thì mở xắc-cốt đưa ra 3 tờ giấy công tác, rồi vỗ vai từng người: “Vì chiến công bắn rớt “thằng giặc nhà trời”, mỗi đồng chí được về thăm nhà, đón Tết 7 ngày. Chiều nay có thuyền về đất liền, các cậu chuẩn bị đi là vừa!”. Chúng tôi lặng người đi vì sung sướng. Thời chiến, chuyện phép tắc đã chẳng có, chuyện được về quê ăn Tết cùng gia đình khác chi chiêm bao. Ba chúng tôi lèn vào ba lô cả đống thư từ, quà cáp của đồng đội gửi về cho người thân, hớn hở xuống thuyền nhằm hướng đất liền…

Khỏi phải kể những chuyện “vui như Tết” trong những ngày được về quê ăn Tết. Những năm tháng đó, cả Bắc - Trung - Nam cuộc sống đều rất khó khăn. Nhưng dù sao ngày Tết mỗi gia đình cũng có vài cân thịt, ít cân nếp, dăm cái bánh chưng để mừng Xuân, đón Tết. Sáng mùng một, tôi thắng bộ quân phục còn thơm mùi vải, đi chúc Tết một vòng các gia đình trong xóm. Đến nhà bác Cầm, một người chuyên trồng đào giống để bán, bác vui lắm:

- Bác hỏi khí không phải, ở đảo Tết nhất có vui như ở nhà ta không cháu?

- Dạ thưa, vui bác à! - Tôi trả lời - Bánh, kẹo, gạo nếp, bánh chưng, thịt thà, rau dưa… đất liền lo cho cũng tàm tạm. Còn ca hát thì cánh lính chúng cháu dư dật lắm. “Tiếng hát át tiếng bom” mà bác!

- Phải! Bộ đội bao giờ chả vui! Thế Tết ở đảo các cháu có hoa đào không?

- Dạ, có, nhưng mà… không, bác ạ. Năm nào đất liền cũng gửi vài ba cành đào cho chúng cháu đón xuân. Đảo thì xa, đào gửi theo tàu, thuyền ra phải luồn sóng, chém gió nên chẳng hiểu sao cứ đến đảo được ít ngày, hoa nào, hoa nấy héo rũ ra rồi rụng hết cánh…?

- Ờ, biển mặn, gió nồng nó thế đấy! Cháu xem, Tết nhất thứ chi thiếu chứ thiếu “cái anh” hoa đào là mất sướng, mất vui, mất hẳn cái không khí của Xuân, của Tết đi. Thế mới hay, lính đảo các cháu phải chịu vất vả, thiệt thòi đủ bề…!

Hết 3 ngày Tết, tôi lại sang nhà bác Cầm. Khi nghe tôi dạm hỏi năm mới bác mở hàng cho vài cây đào giống, bác Cầm tròn xoe mắt:

- Nhà cháu có cả cây đào đẹp như mộng thế, còn mua đào nữa mà làm gì?

- Dạ thưa…- Tôi gãi đầu, gãi tai ấp úng - Là cháu muốn mua để đưa ra trồng ngoài đảo bác à! Đưa đào cành ra chẳng được, cháu nghĩ hay là cứ mạnh dạn đưa “đào gốc”? Cố chăm sóc, giữ gìn, che chắn cho nó, cháu tin đào sẽ cho chúng cháu hoa để đón Xuân, đón Tết!

Bác Cầm nhíu mày, lâu sau bác mới rủ rỉ:

- Trồng được đào ở đảo khó đấy cháu ạ. Đào không kén đất, nhưng ngoài đảo, mưa gió, nắng nôi, bão tố… khác hẳn trong đất liền, mặn mòi, dữ dằn lắm. Lại còn bom rơi, đạn nổ ngày đêm… Khó đấy! Nhưng thôi, quý cái tình của cháu với đảo, bác không bán đâu mà biếu hẳn cho cháu và anh em ta ngoài đó hai cây đào giống đã 4 năm tuổi, đẹp nhất trong vườn. Bác sẽ làm bầu cho thật kỹ, thật chắc và tỉa bớt cành cho cháu dễ mang đi. Nếu các cháu giữ cây sống được, bác đảm bảo Tết năm nay nó sẽ cho hoa. Nhưng mà, cháu nghĩ kỹ đi, phải mang khá nặng đấy, lại vướng víu nữa. Đào mang ra đảo, bầu gốc phải to, nhiều đất. Không chừng chẳng mang trong ba lô được đâu, phải dùng đòn mà gánh đó cháu ạ!

Tôi sướng quá, líu ríu cám ơn bác Cầm, mang ba lô, gánh toòng teeng hai cây đào giống lên đường. Thằng Đông cũng hăng hái “gùi” thêm một cây, theo nó “để làm quân dự bị”! Thật bất ngờ, chẳng hề hẹn nhau, thằng Mùi tít mãi trên Nghi Công xa lắc, xa lơ thế cũng “cõng” một cây đào giống nữa. Ôi chao là vui khi anh em trên đảo chạy ùa xuống chân cầu tàu đón ba chúng tôi. Họ khệ nệ bưng đào lên, vừa ngắm nghía vừa vuốt ve từng cành cây, ngọn lá mà xuýt xoa, như thể gặp lại người thân xa cách đã lâu ngày. Đào được trồng xuống rồi, không khí trên đảo càng chộn rộn. Mọi người tranh nhau xách xô, thùng lương khô xuống giếng nước ngọt tít dưới chân đảo để lấy nước về tưới cho đào. Đường xuống giếng, đi thì trượt dốc, về thì leo từng bậc dễ gần 10 phút chứ ít đâu. Thế là những ngày sau, những ai đi tắm giặt cũng mang cả quần áo ướt về tới gốc đào mới vắt xuống để thêm nước cho cây. Nhưng rồi, mùa hè đến. Nắng trên đảo đỏ trời, kèm theo gió chướng ào ạt thổi. Nắng, gió trên đảo, đến quân phục cánh lính chúng tôi mặc chưa tròn tháng đã bạc phếch, nói chi đến lá đào! Dù chúng tôi đã dùng vải bạt che nắng, chắn gió, tưới tắm chu đáo, vậy mà ba cây đào đang xanh mơn mởn cứ héo quay, héo quắt rũ ra rồi chết. Cánh lính đảo cứ đứng ngơ ngẩn bên những cây đào như người mất hồn. Đông và Mùi thì như đứng trước đồng đội hy sinh, cắn chặt môi, chẳng nói, chẳng rằng!

May sao, cũng còn một cây trụ được. Giữa ngút trời bom đạn; giữa chát chúa nắng nung hay mờ mịt phong ba, bão tố, kỳ lạ, cây đào vẫn vươn cành, nẩy lộc, tỏa màu xanh ngời ngợi. Cuối đông, lá đào ươm vàng xao xác rụng, chấp chới bay như những cánh bướm. Rồi khi những cơn gió heo may hun hút nhạt dần. Rồi khi những tia nắng mỏng tang ấm áp, mới chớm bình minh đã chảy tràn khắp đảo, những nụ đào đầu tiên e ấp nhú lên từ những cuống lá vừa lìa cành ấy. Chao ôi, hầu như cả đảo ùa ra ngây người mà ngắm, mà xuýt xoa… Những năm tháng ấy, nhiều cơn bão gầm rú tràn qua đảo; bom từ máy bay, pháo từ tàu chiến Mỹ liên tục gào rít dội xuống đảo. Ngày đêm trên đảo, mặt đất cứ rung bần bật như cánh lính chúng tôi đang ngồi trên mặt trống đang đánh ngũ liên. Vậy mà thật kỳ lạ, cây đào vẫn xanh tốt, vẫn thủy chung đơm hoa mỗi độ Xuân về. Cây đào đã trở thành hiện thân của đảo, đã là tình yêu, nỗi nhớ của người lính đảo. Những ai đi xa đảo, dù ở chiến trường xa xôi, trong những lá thư gửi về bao giờ cũng hỏi: “Bây giờ cây đào còn khỏe không? ”, cứ như cây đào bằng xương, bằng thịt; cứ như cây đào cũng biết yêu đảo, biết yêu người chăm chút, biết nhớ người đi vậy.

Đầu xuân năm 1970, trong một trận ném bom dữ dội của máy bay Mỹ, một mảnh bom đã phạt ngang cây đào khi nó đang đơm hoa. Máy bay địch cút rồi, chúng tôi xô đến xúm lại, quỳ xuống bên thân đào cụt ngủn, tơ tướp, nhựa cây đang ứa ra mà ai cũng ngỡ như máu đang ứa từ cơ thể mình, từ cơ thể đồng đội mình. Cả đảo kéo nhau đi chặt cây, dựng cọc, níu giữ những cành bị hơi bom quặt quẹo chưa gãy; lại đắp ụ đất bao quanh cây đào rồi thay phiên nhau tưới tắm. Giữa năm đó, tôi được điều động về đảo Sơn Dương rồi về đảo Cồn Cỏ. Trong những lá thư đuổi theo tôi suốt chiều dài con sóng, Đông và Mùi kể rằng: “Đúng là cây đào biết yêu, cậu ạ. Nó yêu như tình yêu của người lính đảo vậy. Hình như bởi nó quá yêu quý đảo, thủy chung với đảo, nên không nỡ xa đảo, không phụ lòng người lính đảo. Sau trận bom đó, không nói ra, nhưng ai cũng nghĩ cây đào khó qua nổi. Vết thương nặng quá, chặt ngang cả thân cành nó còn gì. Nhưng như một người lính bị thương, được băng bó, chăm sóc, nuôi dưỡng, nó đứng dậy, khỏe khoắn, ngẩng cao đầu giữa trời, cùng chúng mình giữ biển, giữ đảo, mặc mưa bom, bão đạn; mặc gió giật, mưa nguồn. Rồi một ngày, khi những bóng đen của những con tàu ma quái, của những con quạ sắt bị chúng mình đánh đuổi, mất hút phía chân trời, từ nơi cây bị mảnh bom tiện đứt, mầm xanh bỗng bật lên. Lá đào non tơ, nhọn hoắt, mềm mại, xanh mướt. Và từ những kẽ mầm, những nụ hoa nhỏ nhoi, tròn trĩnh, lóng lánh, phơn phớt hồng bật ra lung linh như những giọt sương mai… Đào đã lại đưa mùa Xuân về với đảo, cậu ạ!”.

Tôi rưng rưng ấp lá thư của người đồng đội vào ngực. Thật kỳ lạ, từ ấy, nhiều năm, rất nhiều năm qua rồi, “cây đào tình yêu” trên đảo xa cứ chập chờn trong tôi trong những đêm khó ngủ. Và, cái màu hoa phơn phớt hồng như màu nắng mỗi độ xuân về trên đảo ngày ấy, cùng màu sóng trắng cứ lung linh, sóng sánh vỗ vô hồi trong những giấc mơ tôi; cứ đọng mãi trong ký ức tôi…!

(*) Máy bay AD6 Mỹ gọi là “giặc nhà trời”

Nguyễn Xuân Diệu

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi xuất bản
Họ và tên: (*) Địa chỉ Email: (*)
Bình luận
Xem theo ngày:

Địa phương

Trung tướng Công an thiệt mạng trong tai nạn trên QL5

Trung tướng Công an thiệt mạng trong tai nạn trên QL5

Do bị chiếc xe khách mất lái đâm mạnh nên 3 người ngồi trên xe 7 chỗ đã thiệt mạng, trong đó có Trung tướng Nguyễn Xuân Tư, Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục Xây dựng lực lượng (Bộ Công an).

Trang Hà Nội

Hà Nội tiêm vắcxin sởi-rubella trên diện rộng

Hà Nội tiêm vắcxin sởi-rubella trên diện rộng

Thành phố Hà Nội triển khai tiêm phòng miễn phí ba đợt vắcxin sởi - rubella cho trẻ, với khoảng 1,5 - 1,6 triệu trẻ thuộc diện tiêm mở rộng trong chiến dịch tiêm chủng này.

Thông tin - Quảng cáo

Xác lập kỷ lục đèn lồng cá chép lớn nhất Việt Nam

Xác lập kỷ lục đèn lồng cá chép lớn nhất Việt Nam

Ngày 20/8/2014, chiếc đèn lồng cá chép khổng lồ sẽ được ra mắt tại Vincom Mega Mall (VMM) Times City, Hà Nội. Được kết từ hơn 5.000 chiếc đèn lồng rực rỡ, đây sẽ là đèn lồng lớn nhất Việt Nam từ trước đến nay, đồng thời xác lập kỷ lục Guinness Việt Nam.