Đẩy mạnh tuyên truyền về cải cách tư pháp

Cải cách tư pháp được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, được Đảng ta đề ra tại các văn kiện Đại hội từ năm 1991 đến nay, đặc biệt là tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. 

Để tăng cường sự hiểu biết của nhân dân, sự thống nhất nhận thức của cán bộ, đảng viên về nhiệm vụ cải cách tư pháp, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) đã phỏng vấn đồng chí Lê Thị Thu Ba, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương một số vấn đề về nội dung này.

Ðồng chí Lê Thị Thu Ba (phải). Ảnh: Doãn Tấn – TTXVN


* Xin đồng chí cho biết những kết quả nổi bật trong thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp, nhất là từ khi có Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020?

Cải cách tư pháp được Đảng ta đề ra từ rất sớm, với chủ trương thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) khởi xướng, đã tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, đề xuất các nhiệm vụ cải cách tư pháp sau này. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, các văn kiện của Đảng đã liên tục đề ra những nhiệm vụ cụ thể cho cải cách tư pháp, nhưng quan trọng hơn là Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành 2 nghị quyết chuyên đề về cải cách tư pháp (Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020).

Kết quả thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp trong thời gian qua, nhất là trong 9 năm gần đây (kể từ khi có Nghị quyết số 49-NQ/TW đến nay), tuy chưa đạt được tiến độ đề ra nhưng cũng gặt hái được nhiều kết quả quan trọng, trong đó có một số kết quả nổi bật.

Thứ nhất, đã làm thay đổi nhận thức trong cán bộ, đảng viên, cấp ủy, tổ chức đảng về yêu cầu xây dựng một nền tư pháp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người… Hệ thống chính sách pháp luật về hình sự, dân sự, tố tụng tư pháp, thi hành án, bổ trợ tư pháp, tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp từng bước được xây dựng, hoàn thiện theo những chủ trương và định hướng của Chiến lược cải cách tư pháp.

Cụ thể: Chính sách pháp luật hình sự được hoàn thiện theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa, tính hướng thiện và nhân đạo trong xử lý người phạm tội. Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã bãi bỏ hình phạt tử hình đối với 8 tội danh; thay đổi hình thức thi hành án tử hình; quy định rõ việc không áp dụng hình phạt tù chung thân, tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội; không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử; không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền, hạn chế áp dụng hình phạt tù đối với một số tội phạm. 

Đồng thời quy định trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn đối với những người có thẩm quyền trong thi hành pháp luật, người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội. Pháp luật dân sự được hoàn thiện theo hướng tôn trọng quyền tự do kinh doanh, hình thành cơ chế pháp lý bảo đảm thực thi tốt hơn quyền của các chủ thể trong giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, thúc đẩy các giao dịch phát triển lành mạnh, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 

Pháp luật về tố tụng tư pháp từng bước được hoàn thiện; đã ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành. Nghiên cứu xác định lại mô hình tố tụng theo hướng kết hợp giữa mô hình tố tụng thẩm vấn với tố tụng tranh tụng nhằm tăng tính dân chủ, minh bạch trong hoạt động tố tụng và đảm bảo bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tố tụng. Chủ trương khuyến khích giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài được thể chế hóa trong Luật trọng tài thương mại, Luật hòa giải ở cơ sở.

Đặc biệt là Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi cuối năm 2013 đã thể chế hóa được nhiều chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cùng với việc khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, Hiến pháp năm 2013 cũng xác định rõ Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp; Chính phủ thực hiện quyền hành pháp (cơ quan chấp hành của Quốc hội); Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp. 

Hiến pháp năm 2013 cũng đã tuyên bố: Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được ghi nhận và đảm bảo…

Có thể thấy dấu ấn của cải cách tư pháp được thể hiện rất rõ trong Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) năm 2014, theo đó, vai trò thực hiện quyền tư pháp của Tòa án nhân dân đã được cụ thể hóa một bước. Tòa án nhân dân tổ chức thành 4 cấp độc lập, theo thẩm quyền xét xử, tổ chức lại các tòa chuyên trách theo hướng mở rộng ở ba toà: toà cấp cao, toà cấp tỉnh và toà cấp huyện; cụ thể hóa nguyên tắc nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm; đảm bảo thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự... 

Viện kiểm sát được tổ chức 4 cấp phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án nhân dân; phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra; mở rộng thẩm quyền công tố và kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm…

Thứ hai, việc hoàn thiện tổ chức bộ máy và xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan tư pháp có nhiều đổi mới theo hướng hiện đại. Đã thực hiện thành công nhiệm vụ tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp huyện, khắc phục tình trạng tồn đọng án ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao. 

Mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân đối với các khiếu kiện hành chính, giao Tòa án nhân dân thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp: đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục và cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tổ chức, hoạt động của các cơ quan thi hành án các cấp được kiện toàn; vai trò của lực lượng cảnh sát hỗ trợ tư pháp sau khi thành lập được phát huy. 

Việc thí điểm thực hiện chế định Thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh (từ 2010-2012) thu được những kết quả tích cực, tiếp tục mở rộng việc thí điểm tại 12 tỉnh, thành phố khác. Các tổ chức bổ trợ tư pháp đổi mới mạnh mẽ theo hướng xã hội hóa, phục vụ có hiệu quả công tác điều tra, truy tố xét xử, đáp ứng được bước đầu yêu cầu của xã hội.

Đội ngũ luật sư phát triển nhanh về số lượng, tính đến hết năm 2014 số lượng luật sư trên toàn quốc là 9.375 và khoảng 4.000 luật sư tập sự, đảm bảo đúng định hướng phát triển luật sư tại Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020. Vai trò của luật sư trong hoạt động tố tụng tiếp tục được khẳng định, số vụ việc luật sư tư vấn, tham gia bào chữa và trợ giúp pháp lý ngày càng tăng (riêng 10 tháng đầu năm 2014, các luật sư tham gia tố tụng 20.374 việc; tham gia trợ giúp pháp lý miễn phí 22.024 việc). 

Chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng đã thành công bước đầu, phục vụ kịp thời nhu cầu của người dân. Tính đến cuối năm 2014, cả nước có 846 tổ chức hành nghề công chứng với 1.770 công chứng viên. Công tác giám định tư pháp có nhiều chuyển biến, đã ban hành Luật giám định tư pháp và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành; đội ngũ giám định viên và tổ chức giám định đã được tăng cường (số giám định viên hiện nay là 4.673 người), chế độ, chính sách đối với giám định viên, tổ chức giám định được quan tâm; cơ sở vật chất và trang thiết bị cho giám định tư pháp được quan tâm đầu tư, góp phần khắc phục một bước hạn chế, vướng mắc trong hoạt động giám định tư pháp, tháo gỡ những điểm nghẽn đã làm chậm trễ việc giải quyết một số vụ án.

Thứ ba, cán bộ là yếu tố quan trọng, quyết định sự thành công của cải cách, vì vậy nhiệm vụ xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp được đặc biệt quan tâm. Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng tích cực đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, kinh tế, xã hội, kiến thức chuyên sâu về pháp luật, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn. Đã đào tạo một số lượng lớn cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ luật; thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, luật sư, chấp hành viên, công chứng viên... đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa trình độ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp. 

Ngoài ra, nhiều cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ ở nước ngoài theo các chương trình, đề án của Nhà nước và các dự án quốc tế, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho việc hội nhập về pháp luật và tư pháp ngày càng sâu rộng. Bên cạnh đó, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp được quan tâm tiến hành thường xuyên, gắn với cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Thứ tư , việc ban hành Luật thi hành án dân sự, Luật thi hành án hình sự tạo thuận lợi cơ bản để kiện toàn tổ chức các cơ quan thi hành án, nâng cao chất lượng hoạt động thi hành án, khắc phục được nhiều hạn chế, vướng mắc trước đây. Cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ thi hành án được bảo đảm. Số lượng vụ, việc dân sự, hành chính được thi hành ngày càng tăng. Công tác quản lý, cải tạo phạm nhân tốt hơn, điều kiện cơ sở vật chất nơi giam giữ, chế độ, chính sách đối với phạm nhân (ăn, mặc, khám chữa bệnh…) được cải thiện; các trại giam, trại tạm giam được bảo vệ an toàn.

Hoạt động hợp tác quốc tế về tư pháp được mở rộng phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế. Việc nhanh chóng mở rộng quan hệ về tư pháp và pháp luật với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã đánh dấu sự hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam vào đời sống pháp lý quốc tế. Đến nay Việt Nam đã có quan hệ về tư pháp và pháp luật với hơn 80 quốc gia và tổ chức quốc tế.

Phương thức lãnh đạo của Đảng và công tác giám sát của các cơ quan dân cử đối với các cơ quan tư pháp tiếp tục được đổi mới.

Có thể khẳng định, kết quả cải cách tư pháp đã góp phần tích cực trong việc tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, hội nhập quốc tế, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

*  Trong thực tế, việc thực hiện một số nhiệm vụ cải cách tư pháp và hoạt động tư pháp còn chậm, chưa theo đúng lộ trình của Chiến lược cải cách tư pháp. Vấn đề án oan, sai vẫn còn xảy ra. Vậy, thưa đồng chí, các giải pháp khắc phục vấn đề này như thế nào?

Việc chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ cải cách tư pháp trong thời gian qua còn chậm, chưa theo đúng lộ trình của Chiến lược cải cách tư pháp có nhiều nguyên nhân. Về khách quan, do phải chờ sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thì mới sửa đổi được các luật khác. Về chủ quan, một số vấn đề do nhận thức còn khác nhau nên chưa thống nhất trong hành động; một số vấn đề phát sinh cần giải quyết nhưng do chậm được nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa đầy đủ nên các bộ, ngành chưa kịp thời đề xuất phương án giải quyết. Có một số nhiệm vụ khi triển khai thực hiện còn ý kiến khác nhau nhưng chậm được kết luận rõ nên khó triển khai thực hiện.

Về vấn đề oan, sai: thời gian qua tuy có giảm nhưng vẫn còn phát hiện một số vụ oan, sai rất nghiêm trọng. Trước hết là do trình độ, năng lực, kinh nghiệm chuyên môn, trình độ chuyên sâu của cán bộ các chức danh tư pháp còn hạn chế. Hai là do một số điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán còn có biểu hiện nôn nóng, chạy theo thành tích, giải quyết cho xong việc, cộng với trình độ, năng lực yếu kém nên dẫn đến oan, sai. 

Ba là do một số cán bộ tư pháp trong quá trình giải quyết công việc thiếu bản lĩnh, còn bị tác động bởi lợi ích vật chất; do quan hệ hoặc do thiếu trách nhiệm, không tận tâm, tận lực trong công việc. Ngoài ra, cũng có nguyên nhân do một số quy định của pháp luật còn chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ.

Để chống oan, sai trong hoạt động tư pháp, các bộ, ngành cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức, nâng cao trách nhiệm, đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp, nhận thức chính trị cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nội bộ, hoàn thiện cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các cán bộ điều tra, kiểm sát, xét xử, thi hành án, luật sư… trong hoạt động tư pháp. 

Trong các vụ án hình sự, phải thống nhất nhận thức về trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan điều tra, viện kiểm sát, bị can; nếu bị can, bị cáo có khai báo nhận tội thì lời nhận tội của họ chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án và không được dùng lời khai đó làm chứng cứ duy nhất để kết tội họ. 

Đồng thời, pháp luật cần mở rộng phạm vi các vụ án bắt buộc có luật sư bào chữa, đảm bảo luật sư phải được tham gia ngay từ đầu khi vụ việc xảy ra; trong những vụ án có luật sư bào chữa phải cho phép bị can được quyền im lặng chừng nào chưa có luật sư đến. Ngoài ra, cần tổ chức trại tạm giam tách bạch khỏi cơ quan công an cấp huyện, cấp tỉnh, thành một hệ thống độc lập để bảo đảm tính khách quan trong công tác điều tra.

* Xin đồng chí cho biết, những nhiệm vụ trọng tâm cải cách tư pháp trong thời gian tới và những nội dung cụ thể trong công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, nhiệm vụ cải cách tư pháp và hoạt động tư pháp?

Trước hết, tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự, đề cao hiệu quả phòng ngừa, tính nhân đạo, hướng thiện và bảo vệ quyền con người trong việc xử lý người phạm tội. Hạn chế hơn nữa việc áp dụng hình phạt tử hình; giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. 

Tiếp tục hoàn thiện pháp luật dân sự, đảm bảo đầy đủ hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong quan hệ pháp luật dân sự theo đúng quy định của Hiến pháp năm 2013 “mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” (Điều 33), thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển lành mạnh. 

Phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tăng cường hơn nữa việc giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài. Mở rộng hơn thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân đối với các khiếu kiện hành chính, đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại tòa án, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước toà án.

Cụ thể hóa mô hình tố tụng kết hợp giữa thẩm vấn và tranh tụng trong các luật về tố tụng để nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được thực hiện có hiệu quả. Trong năm 2015, các bộ, ngành khẩn trương hoàn thiện các đề án phục vụ việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật: Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật tạm giữ, tạm giam… nhằm đảm bảo thể chế hóa kịp thời, đúng đắn các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và quy định của Hiến pháp năm 2013.

Thứ hai, trong các luật liên quan đến tổ chức và hoạt động tư pháp được thông qua trong năm 2015 cần tiếp tục xác định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính dân chủ, công bằng, nghiêm minh; xác định rõ nội hàm và xây dựng cơ chế để Tòa án nhân dân thực hiện đầy đủ quyền tư pháp. Hoàn thiện cơ chế đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được thực hiện có hiệu quả, coi đây là khâu đột phá của cải cách tư pháp. 

Xác định rõ phạm vi kiểm sát hoạt động tư pháp trong từng lĩnh vực, quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; tách bạch rõ vai trò kiểm sát viên thực hành quyền công tố với kiểm sát hoạt động tư pháp. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan thi hành án. Tổng kết việc thực hiện thí điểm chế định thừa phát lạị đồng thời với việc đề xuất xây dựng chính sách, pháp luật về tổ chức, hoạt động của thừa phát lại khi quyết định mở rộng.

Bên cạnh đó, tiếp tục tăng cường vai trò của luật sư trong hoạt động tố tụng, đặc biệt trong giai đoạn điều tra, từng bước đảm bảo cho mọi công dân có nhu cầu được trợ giúp pháp lý và được bào chữa khi bị xét xử về hình sự. Đồng thời, đổi mới cơ chế, chính sách nhằm mở rộng đối tượng, nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý cho người dân; hỗ trợ các đối tượng cần được trợ giúp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; bảo đảm công lý, công bằng xã hội. 

Thực hiện xã hội hóa đối với các lĩnh vực giám định theo mức độ, phạm vi và lộ trình phù hợp. Nhà nước chỉ đầu tư thực hiện những loại việc công dân và tổ chức xã hội không làm được hoặc làm không có hiệu quả. Hoàn thiện chế định công chứng theo hướng tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện để các tổ chức công chứng hoạt động đúng pháp luật, bình đẳng, có hiệu quả, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của xã hội.

Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ hơn nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp. Tăng cường vai trò và trách nhiệm của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong việc thực hiện nhiệm vụ giám sát hoạt động tư pháp. Tăng cường củng cố, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp với các nước. Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng về công tác tư pháp; bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ đối với các cơ quan tư pháp về chính trị, tổ chức và cán bộ; kiện toàn tổ chức đảng phù hợp với tổ chức hệ thống các cơ quan tư pháp theo mô hình mới.

Về công tác thông tin, tuyên truyền, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương đánh giá cao vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí trong tuyên truyền về chủ trương, nhiệm vụ cải cách tư pháp và hoạt động tư pháp thời gian qua, trong đó có Thông tấn xã Việt Nam. Ngày 15/8/2014, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 38-KH/CCTP về đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, nhiệm vụ cải cách tư pháp và hoạt động tư pháp. Kế hoạch này đang được các bộ, ngành, địa phương triển khai tích cực.

Trong năm 2015, các cơ quan thông tấn, báo chí cần tập trung vào các nội dung sau: Thông tin về tầm quan trọng của cải cách tư pháp và tác động của cải cách tư pháp đến đời sống chính trị, pháp lý, phát triển kinh tế, xã hội, hội nhập quốc tế; kết quả thực hiện cải cách tư pháp từ khi có Chiến lược cải cách tư pháp; phương hướng, nhiệm vụ cải cách tư pháp năm 2015. 

Việc triển khai thực hiện các quy định mới của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) năm 2014. Quá trình lấy ý kiến, thảo luận nội dung các dự thảo luật (sửa đổi) như: Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính; hoặc các dự thảo luật mới như Luật tạm giữ, tạm giam, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự…

Trong 6 tháng đầu năm 2015, cần tập trung phản ánh kết quả thực hiện Nghị quyết số 857/NQ-UBTVQH, ngày 25/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi); kết quả thực hiện chương trình hoạt động giám sát chuyên đề của Quốc hội về tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật (Nghị quyết số 74/2014/QH13 ngày 24/6/2014 của Quốc hội).

Những nhiệm vụ lớn, quan trọng về cải cách tư pháp như: Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp tổ chức Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân thành 4 cấp; đổi mới mô hình tố tụng theo hướng kết hợp giữa mô hình tố tụng thẩm vấn và mô hình tố tụng tranh tụng; tăng cường tranh tụng tại phiên tòa và đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; việc hoàn thiện cơ chế, nâng cao vị trí, vai trò của luật sư, đổi mới và tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; hiệu quả hoạt động của các tổ chức giám định tư pháp, công chứng; kết quả thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại…

Một vấn đề cần quan tâm trong công tác tuyên truyền là phải nêu được những lợi ích mà cải cách tư pháp đã mang lại để xã hội thấy rõ hơn thành quả cải cách tư pháp trong những năm qua, từ đó củng cố niềm tin của người dân vào pháp luật và công lý của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trân trọng cảm ơn đồng chí.


Nguyễn Cường (thực hiện) (TTXVN)

Chính trị

Hội nhập

Phản hồi

Góc nhìn

Hợp tác nội dung
KÊNH THÔNG TIN CỦA CHÍNH PHỦ DO TTXVN PHÁT HÀNH Tổng biên tập: Ninh Hồng Nga | Giới thiệu - Liên hệ tòa soạn
Giấy phép xuất bản Số 16/GP-TTĐT cấp ngày 11/3/2009
Tòa soạn: Số 5 Lý Thường Kiệt, Hà Nội
Điện thoại: 04-38267042, 04-38252931(2339,2208)- Fax: 04-38253753
Email:baotintuc@vnanet.vn – toasoantintuc@gmail.com
© Bản quyền thuộc về Báo Tin tức - TTXVN
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản
Liên kết site: báo thể thao, ngoại hạng anh