
-
Cần làm và rất nên làm - đó là ý kiến của rất nhiều chuyên gia khi được hỏi về vấn đề nên hay không nên kinh doanh trong di tích. Nhưng điều quan trọng, theo các chuyên gia là phải làm như thế nào để vừa giữ được giá trị văn hóa, vừa phát huy được giá trị kinh tế của di tích, tăng nguồn thu để hỗ trợ việc tu sửa, vận hành di tích, nâng cao đời sống cho cán bộ, và thậm chí đóng góp cho ngân sách nhà nước...
|
Hầu hết những sản phẩm lưu niệm được bán tại di tích lại không phải do người Việt Nam làm. |
Về vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nhà nghiên cứu văn hóa - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di sản các nhà khoa học Việt Nam cho rằng, di sản và các di tích lịch sử có giá trị về nhiều mặt, chính vì vậy, các di tích lịch sử - văn hóa mà chúng ta đang quan tâm chắc chắn sẽ gắn liền với phát triển du lịch, nhất là khi chúng ta bàn về di tích, là bàn về văn hóa vật thể. Ở quốc gia nào cũng thế, muốn để các di tích sống thì việc đầu tiên là phải lôi kéo khách du lịch trong và ngoài nước vào. Những du khách này đến tham quan và làm sống những di tích. Nhưng du lịch có tính hai mặt nên khi có khách du lịch đến, trách nhiệm của những người quản lý, những người dân lại càng lớn hơn, đặc biệt là trong việc bảo vệ, gìn giữ di tích để di tích đó không bị tàn phá. Song, bên cạnh việc bảo vệ, gìn giữ di tích, thì khi có khách đến, đương nhiên người ta phải khai thác những khía cạnh kinh tế của di tích, để tăng nguồn thu cho nhà nước, cho cộng đồng cư dân sống quanh di tích, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của họ, đồng thời có kinh phí để bảo tồn, trùng tu di tích. Chính vì thế, mà người ta gọi du lịch là ngành công nghiệp không khói, đó là làm kinh tế bằng văn hóa, làm kinh tế bằng du lịch.
Theo ông Nguyễn Thế Hùng, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ VH, TT & DL), “Bảo vệ và phát huy giá trị” là cặp phạm trù cơ bản của Luật Di sản văn hóa. Đối với di sản văn hóa nói chung, hay nói cụ thể hơn là một di tích, di vật, cổ vật, di sản văn hóa phi vật thể nếu chỉ bảo vệ tốt cũng mới chỉ hoàn thành một nửa nhiệm vụ. Nửa còn lại rất quan trọng, đó chính là phát huy giá trị của di sản văn hóa đó. Hai nhiệm vụ này có mối tương hỗ với nhau. Muốn phát huy giá trị thì phải bảo vệ để di sản văn hóa đó tồn tại bền vững, lâu dài, bởi di sản văn hóa mất đi thì lấy gì để phát huy giá trị. Phát huy giá trị tốt sẽ góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng để cộng đồng chung tay góp sức bảo vệ di sản văn hóa. Phát huy giá trị tốt sẽ mang lại những nguồn lực mới cho việc bảo vệ di sản văn hóa. Nhưng, giá trị di tích chỉ được phát huy thông qua khách đến tham quan.
Ở nhiều nước, nhất là những “cường quốc” về di sản văn hóa như Pháp, Italia, Hy Lạp, Ai Cập, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc... việc khai thác giá trị kinh tế của di tích đã mang lại những nguồn thu cực kỳ to lớn cho ngân sách, di tích trở thành những “cỗ máy in tiền” hiệu quả cao. Với những quốc gia này, di tích chính là nguồn tài nguyên khai thác không bao giờ cạn, song họ khai thác nhưng vẫn gắn với bảo vệ và giữ được những giá trị của di tích đó.
Trong khi đó ở Việt Nam, nếu đánh giá một cách tổng thể, việc phát huy giá trị di tích nói chung, việc khai thác các giá trị kinh tế nói riêng còn nhiều hạn chế, yếu kém. Hầu hết các di tích đều chưa được khai thác tốt, nên ngân sách nhà nước vẫn phải chi một khoản rất lớn để duy trì bộ máy bảo vệ di tích. Và khi di tích hư hỏng, xuống cấp, lại phải chi khoản kinh phí lớn để sửa chữa, tu bổ. Và đây là gánh nặng đối với ngân sách một địa phương, nhất là ở một đất nước còn nghèo như Việt Nam hiện nay. Vậy vấn đề do đâu?
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Huy, vấn đề chính là do chúng ta làm không chuyên nghiệp. Chính sự không chuyên nghiệp ấy đã để lại những hậu quả về tâm lý, tinh thần, tình cảm, vật chất... không phù hợp với việc kinh doanh khai thác di tích, di sản một cách văn hóa, văn minh nhất. Cũng chính vì không khai thác một cách văn minh nhất, nên việc kinh doanh trong di tích của nhiều đơn vị đã bị phê phán. Điều này cũng không khó để nhận ra. Cứ đến di tích là chúng ta lại nhìn thấy những hàng quán lôm nhôm, nhìn thấy những cảnh tranh mua, tranh bán, nhìn thấy những trò chơi cờ bạc trá hình, hay phải chịu cảnh chặt chém, bắt chẹt khách du lịch... Tất cả những điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, quan niệm của nhiều người về các hoạt động kinh doanh trong di tích.
Không chỉ là những hình ảnh phản cảm, mà khi đến các di tích ở Việt Nam, hầu như không có sản phẩm chuyên môn gì gắn liền với di tích đó, giới thiệu về di tích đó một cách bài bản, văn hóa, văn minh nhất. Anh Daniel, một du khách người Mỹ đã từng phàn nàn: “Đến Việt Nam du lịch, tôi đi đâu cũng thấy bán những sản phẩm lưu niệm giống nhau. Khi tôi đến Sa Pa cũng thấy có bán những sản phẩm lưu niệm giống như khi tôi đến Tháp Chăm, đến TP Hồ Chí Minh... Có rất ít sản phẩm khác nhau và khác không đáng kể. Khi tôi tìm hiểu thì được biết, hầu hết những sản phẩm lưu niệm được bán ấy lại không phải do người Việt Nam các bạn làm. Đó thật là một điều đáng buồn...”.
PGS.TS Nguyễn Văn Huy cho rằng, các di tích ở Việt Nam có giá trị lịch sử, văn hóa rất lớn, nhưng do việc kinh doanh các sản phẩm trong di tích hiện nay của chúng ta đang thiếu văn minh, văn hóa như tình trạng lộn xộn ở đền Trần, đền Bà chúa Kho... nên nó tạo ra cho những người quản lý, những nhà nghiên cứu và mọi người dân thấy rằng như thế là không chấp nhận được, phản cảm...
Ông Huy cũng khẳng định, việc tổ chức làm kinh tế, khai thác những khía cạnh kinh tế xung quanh di tích dứt khoát phải làm, nhưng phải làm ở tầm chuyên nghiệp và văn minh. Để làm được điều đó, Bộ VH, TT & DL, đặc biệt là bên quản lý văn hóa, du lịch cần có trách nhiệm rất lớn. Trên thực tế, hiện nay người ta chưa làm tròn trách nhiệm của mình.
Phương Lan
Bài 3: Để thương mại không làm “hại di tích”